• Thứ Tư, 11/02/2004 09:44 (GMT+7)

    Cần hai tăng tốc và một ổn định

    Trong hơn 3 thập niên vừa qua, sự tràn ngập của công nghệ vi xử lý, sự bùng nổ của Internet đã làm thay đổi toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của nhân loại. Thế giới dần định hình 3 dòng chảy hướng về tương lai... Ba dòng chảy hợp lưu mạnh mẽ, tạo ra một thị trường CNTT quốc tế đạt 2.300 tỷ USD năm 2002, tăng 2,3 % so với năm 2001. Để tránh nguy cơ tụt hậu, Việt Nam cần làm gì và làm thế nào trong năm 2004?

    Ba dòng chảy trên Thế Giới và vị thế của Việt Nam
    Trong hơn 3 thập niên vừa qua, sự tràn ngập của công nghệ vi xử lý, sự bùng nổ của Internet đã làm thay đổi toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của nhân loại. Thế giới dần định hình 3 dòng chảy hướng về tương lai:
    Thứ nhất, ở các nước phát triển, sự thâm nhập của CNTT đã gắn kết các ngành cơ khí, điện, điện tử với nguyên lý điều khiển số, tạo ra công nghệ mới cho tất cả các ngành sản xuất, làm thay đổi cơ bản năng suất, chất lượng, giá thành sản phẩm và diện mạo các ngành công nghiệp. Trong quản lý, người ta đang chuyển  mạnh sang tự động hoá quản lý, xử lý tri thức. Nền tảng cho nó là siêu lộ thông tin và liên kết toàn cầu.
    Thứ hai, ở các nước mới công nghiệp hoá, phần lớn thành công ngoạn mục của họ đều nhờ nắm bắt được cơ hội về công nghiệp điện tử và công nghiệp máy tính. Ba năm đầu thế kỷ XXI, họ tiếp tục duy trì và phát triển 2 lĩnh vực này, đồng thời tăng tốc phát triển các dịch vụ thông tin và công nghiệp phần mềm (PM).

    Bảng 1 - VỊ THẾ VIỆT NAM THEO CHỈ SỐ NRI

    Thứ ba, các nước đang phát triển như Việt Nam đang nỗ lực xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin, từng bước triển khai ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước và trong sản xuất kinh doanh, bước đầu xây dựng CNp CNTT và phát triển dịch vụ CNTT. Nhiều quốc gia trong nỗ lực để thoát khỏi vị thế chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm CNTT đã khá thành công trong CNp phần cứng và gia công PM xuất khẩu.

    Ba dòng chảy trên hợp lưu mạnh mẽ, tạo ra một thị trường CNTT quốc tế đạt 2.300 tỷ USD năm 2002, tăng 2,3 % so với năm 2001. Ở châu Á, đã xuất hiện những mẫu hình về ứng dụng CNTT và dịch vụ truyền thông như Thái Lan, Malaysia, Philippines, phát triển CNp CNTT như Ấn Độ, Trung Quốc.
    Việt Nam đang nằm ở dòng chảy thứ ba nhưng có điểm xuất phát thấp và vị thế tụt hậu so với nhiều nước khác. Thế Giới Vi Tính sê-ri B tháng 12/2003 đã có bài phân tích khá kỹ vấn đề này. Ở đây chỉ nêu thêm một cách đánh giá khác của Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF) về 'Chỉ số sẵn sàng kết nối' (NRI), thông qua các chỉ tiêu về sử dụng mạng (Internet và điện thoại di động), các yếu tố thể hiện khả năng tác động như khả năng truy cập, các chính sách về xã hội mạng và kinh tế mạng... Trong số 82 quốc gia được xem xét, theo đánh giá năm 2002-2003, Việt Nam đạt 2,96 điểm, đứng ở vị trí 71/82; so với các quốc gia Đông Nam Á, ta đứng hàng thứ 6 và tụt hậu rất xa so với Malaysia, Thái Lan. Năm 2003, nhờ nỗ lực tăng tốc phát triển và hiện đại hóa mạng thông tin quốc gia, vị thế của Việt Nam đã được cải thiện, đạt 3,13 điểm, đứng thứ 68/102 nước, và đã vượt lên trên Indonesia, Philippines (xem bảng 1 và 2).

    Bảng 2 - VỊ THẾ VIỆT NAM SO VỚI ĐÔNG NAM Á

    Chỉ thị 58/CT-Tư: 3 năm nhìn lại
    Chỉ Thị 58/CT-TƯ ngày 17/10/2000 của Bộ Chính Trị đã thổi một luồng sinh khí mới cho CNTT-TT nước nhà:
    Việc ứng dụng CNTT đã khá phổ biến với quy mô rộng và bắt đầu có chiều sâu. Ở một số lĩnh vực kinh tế có yêu cầu hội nhập, cạnh tranh cao như ngân hàng, tài chính, viễn thông, hàng không..., CNTT đã được khẳng định là yếu tố quyết định cho sự phát triển. Đặc biệt, trong hoạt động ngân hàng, hơn 80% các thao tác nghiệp vụ và 85% các giao dịch được thực hiện trên máy tính và các thiết bị CNTT hiện đại. Từ tháng 5/2002, hệ thống thanh toán liên ngân hàng được triển khai và đến 9/2003 có 54 ngân hàng thành viên tham gia hệ thống này. Nhiều ứng dụng CNTT trong các ngành kinh tế như xây dựng, kiến trúc, giao thông, cơ khí, dầu khí, thuỷ lợi, dệt may, nhựa... bước đầu có hiệu quả, tạo năng suất cao, giảm giá thành.


    Bộ trưởng Bộ BCVT Đỗ Trung Tá(phải) và đoàn đại biểu Hội Thảo Quốc Gia CNTT-VT lần I (9/2003, TP.HCM)thăm CVPM Quang Trung

    Ở mức độ sơ khai, thương mại điện tử đang hỗ trợ hoạt động kinh doanh với trên 30% doanh nghiệp (DN) nối mạng Internet, 10% DN có trang Web riêng. Trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, lác đác hình thành các dịch vụ trực tuyến trên Internet. Hiện cả nước có 1/2 bộ, ngành và 1/3 tỉnh, thành xây dựng được Web điều hành tác nghiệp và Web thông tin. Hơn 20 tờ báo điện tử và các trang tin điện tử trên Internet đã góp phần thay đổi diện mạo đời sống tinh thần của cộng đồng. Đã có 300 trang Web cung cấp thông tin về tư vấn giáo dục, luyện thi trực tuyến, đào tạo từ xa và phục vụ tuyển sinh. Năm 2003 cũng là năm nối mạng Internet cho 2057 trường THPT.

    Ngành CNp CNTT đã có những bước phát triển đáng chú ý. Đến tháng 7/2003, có khoảng 2.500 DN đăng ký sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực CNTT, trong đó có 500 công ty PM với khoảng 8.000 nhân lực (trước năm 2000 chỉ có 170 công ty). Một vài khu CNp PM tập trung hoạt động khá thành công, đáng kể là CVPM Quang Trung thu hút 52 công ty, 2.400 lao động, 11 triệu USD vốn kinh doanh và 500 tỷ đồng vốn đăng ký đầu tư tiếp của 22 DN.
    Doanh thu sản phẩm và dịch vụ PM cả nước đạt 50 triệu USD năm 2000, 75 triệu USD năm 2002 và ước đạt 100 triệu USD năm 2003.  Một số nhà máy sản xuất phần cứng đã đi vào hoạt động như Fujitsu (bo mạch ổ cứng), Samsung VINA (màn hình), Canon (máy in)... Đã có 20 nhà lắp ráp máy vi tính thương hiệu Việt Nam, chiếm khoảng 20% thị phần trong năm 2003. Doanh thu công nghiệp thiết bị viễn thông năm 2002 đạt cỡ 140 triệu USD, đáp ứng 30% nhu cầu trong nước và dự kiến năm 2003 đáp ứng 35-40% nhu cầu.

    Mạng thông tin quốc gia phát triển mạnh mẽ trong 3 năm 2001-2003. Hai năm 2001-2002 đánh dấu bước hiện đại hoá mạng viễn thông và năm 2003 là sự khép dần cánh cửa độc quyền, đa dạng hoá các dịch vụ viễn thông và Internet. Nhà Nước đã cấp phép cho 6 DN cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế, 5 DN cung cấp dịch vụ điện thoại di động, 6 DN cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) và 13 DN cung cấp dịch vụ truy cập Internet (ISP). Một số dịch vụ mới như truy cập Internet không dây, điện thoại Internet, điện thoại di động công nghệ CDMA; Internet tốc độ cao ADSL... đồng loạt triển khai vào giữa năm 2003, đem lại nhiều tiện ích cho người dân.

    Cần làm gì cho 2004?
    Nhìn lại bức tranh CNTT-TT sau 3 năm triển khai Chỉ Thị 58, không ai có thể phủ nhận quyết tâm của Nhà Nước cả về chính sách và nỗ lực đầu tư. Song ở lĩnh vực này, vẫn còn nhiều hạn chế về hiệu quả đầu tư. Sự tự phát của nhiều ứng dụng đã không theo chuẩn, rất khó cho việc tích hợp, chia sẻ và khai thác thông tin phục vụ quản lý và phục vụ xã hội. CNp PM có sự tăng trưởng đáng kể, nhưng rõ ràng không thể đạt chỉ tiêu 500 triệu USD vào năm 2005. Về mạng thông tin quốc gia, chất lượng các dịch vụ Internet còn thấp, giá cả cao. Năm 2003 tỷ lệ thuê bao Internet chỉ đạt 0,5% dân số, và với tốc độ tăng trưởng 10%/ năm như hiện nay thì đến năm 2005 rất khó đạt chỉ tiêu 1,3%-1,5% dân số thuê bao Internet. Thế giới đang bùng nổ truy cập Internet băng thông rộng, riêng các nước châu Á chiếm 40% thị phần, nhưng ở Việt Nam truy cập băng thông rộng còn rất hạn chế...
    Để tránh nguy cơ tụt hậu, cần làm gì và làm thế nào trong năm 2004?

    Hai tăng tốc...
    Trước hết, tăng tốc phát triển nguồn nhân lực CNTT có chất lượng cần là khâu đột phá trong năm 2004. Ba năm qua, nguồn nhân lực yếu kém ở nhiều góc độ là nguyên nhân của mọi nguyên nhân kìm hãm tốc độ phát triển CNTT-TT Việt Nam. Thực tế cho thấy, các công ty PM muốn tuyển nhân lực đều phải đào tạo lại về kỹ năng CNTT và đa số các lập trình viên không đủ trình độ ngoại ngữ để gia công PM xuất khẩu. TP. HCM, nơi mạnh nhất cả nước về triển khai chương trình tin học hoá quản lý hành chính, nhưng theo ông Hoàng Lê Minh, phó giám đốc Sở KH&CN, toàn thành phố có 82.000 người hưởng lương ngân sách, song chỉ khoảng hơn 2.000 người thành thạo sử dụng vi tính, số người biết khai thác, xử lý thông tin trên mạng càng hiếm. Tỷ lệ này ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ... chắc còn thấp hơn nhiều. Với đội ngũ công chức ấy làm sao xây dựng 'thành phố thông minh'? Có lẽ việc tăng tốc phát triển nguồn nhân lực CNTT năm 2004 nên đặc biệt ưu tiên đào tạo cho khối công chức và tăng tốc đào tạo cán bộ lãnh đạo thông tin (CIO), vì đây chính là điều kiện đảm bảo cho thành công của các dự án ứng dụng CNTT. Ngoài ra, từ năm 2004-2010 nên dừng lại chỉ tiêu đào tạo ĐH-CĐ về CNTT ở mức 10.000 người/năm (như 2003), và tăng tốc đào tạo CNTT cho các cán bộ, kỹ sư, sinh viên tốt nghiệp các ngành không chuyên CNTT.
    Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các ngành kinh tế có tính cạnh tranh cao sẽ có hiệu ứng lan tỏa và kích thích tăng tốc ứng dụng CNTT cho toàn xã hội. Ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính nhà nước cần nhanh chóng xây dựng một số cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia quan trọng. Các CSDL phải được cập nhật vững chắc và được khai thác có hiệu quả, từng bước kiến tạo hạ tầng thông tin quốc gia.

    ...và một ổn định
    Hai nội dung tăng tốc vừa nêu chỉ có thể thành công nếu được triển khai trong một môi trường pháp lý ổn định ở tầm vĩ mô. Nhiều cuộc hội thảo trong năm 2003 cho thấy đông đảo giới CNTT trong nước hướng hy vọng vào sự ổn định trước hết ở cơ chế quản lý mới trong năm 2004. BCĐ Quốc Gia về CNTT cần được kiện toàn bằng các tiểu ban chuyên môn đủ mạnh, có trách nhiệm thẩm định và giám sát các chủ trương, chính sách quan trọng và những dự án lớn về CNTT-VT. Nhiều ý kiến mong muốn Chính Phủ đề nghị Quốc Hội cho đổi tên Bộ BCVT, để nó mang nội hàm đầy đủ chức năng quản lý nhà nước của một ngành kinh tế độc lập. Đi theo đó là bộ máy các sở độc lập ở cấp tỉnh, thành để đảm  bảo thống nhất quản lý CNTT- TT. Có được sự ổn định này trong năm 2004 sẽ có thể tạo nên sức bật không nhỏ như 'khoán 10' trong nông nghiệp những năm 80 của thế kỷ trước. Chúng ta có lý do để chờ đợi và hy vọng! ÿ

    Vũ Ngọc Tiến

    ID: B0401_11