• Thứ Sáu, 13/02/2004 10:01 (GMT+7)

    Mô hình chất lượng ISO - 9126

    Trong số trước, chúng ta đã làm quen với khái niệm chất lượng PM và cách tiếp cận của ISO. Một câu hỏi đặt ra là: ngoài cách tiếp cận toàn diện, ISO liệu có điểm đặc biệt gì hơn những hệ thống tiêu chuẩn chất lượng khác?
    Câu trả lời ở đây chính là mô hình chất lượng 9126. Hiện tại, nhiều người cho rằng đây là mô hình chất lượng ưu việt nhật cho sản phẩm PM. Người ta nói nhiều về chất lượng quy trình nhưng với chất lượng sản phẩm, Ngoài những cố gắng của ISO thể hiện trong mô hình 9126 ở Việt Nam, Chưa có ai đề cập đến vấn đề này một cách bài bản và toàn diện.

    ISO 9126 là gì?
    Mô hình chất lượng ISO-9126 trên thực tế được mô tả là một phương pháp phân loại và chia nhỏ những thuộc tính chất lượng, nhằm tạo nên những đại lượng đo đếm được dùng để kiểm định chất lượng của sản phẩm PM.
    Ở mô hình chất lượng nội bộ và chất lượng hướng ngoại của sản phẩm trong ISO - 9126, chất lượng PM được chia làm 6 đặc tính lớn gồm:
    1. Tính năng (Functionality)
    2. Độ ổn định (Reliability)
    3. Tính khả dụng (Usability)
    4. Tính hiệu quả (Efficiency)
    5. Khả năng bảo hành bảo trì (Maintainability)
    6. Tính khả chuyển (Portability)
    (Xem hình 1)

    Mỗi đặc tính lớn lại được chia thành những đặc tính nhỏ hơn:
    1.Tính năng (Functionality)
    Là khả năng của PM cung cấp các chức năng thỏa mãn các yêu cầu được xác định rõ ràng cũng như các yêu cầu 'không tường minh' khi PM được sử dụng trong những ngữ cảnh cụ thể. Gồm 4 đặc tính nhỏ:
    - Tính phù hợp (Suitability)
    - Tính chính xác (Accuracy)
    - Khả năng tương tác (Interoperability)
    - Tính bảo mật/an toàn (Security)

    2. Tính ổn định (Reability)
    Là khả năng của PM duy trì mức hiệu năng được chỉ định rõ khi sử dụng dưới những điều kiện cụ thể. Gồm các đặc tính nhỏ:
    - Tính hoàn thiện (Maturity)
    - Khả năng chịu lỗi (Fault tolerant)
    - Khả năng phục hồi (Recoverability)

    3. Tính khả dụng (Usability)
    Là khả năng của PM để có thể hiểu được, học hỏi được, sử dụng được và hấp dẫn đối với người sử dụng.
    - Dễ hiểu (Understandability)
    - Dễ học (Learnability)
    - Khả năng điều khiển (Operability)
    - Tính hấp dẫn (Attractiveness)

    4. Tính hiệu quả (Efficiency)
    Là khả năng của PM cung cấp hiệu năng thích hợp nhằm tiết kiệm tối đa tài nguyên và tăng tối đa hiệu suất công việc, dưới những điều kiện sử dụng nhất định.
    - Thời gian xử lý (Time behavior)
    - Tận dụng tài nguyên (Utilization)

    5. Khả năng bảo trì (Maintainability)
    Là khả năng của PM cho phép sửa đổi, nâng cấp, bao gồm những sự sửa chữa, sự cải tiến hoặc sự thích nghi của PM để thay đổi cho phù hợp với môi trường, và các yêu cầu, đặc tả chức năng mới.
    - Khả năng phân tích (Analysability)
    - Khả năng thay đổi được (Changeability)
    - Tính ổn định (Stability)
    - Khả năng kiểm thử được (Testability)  

    6. Tính khả chuyển (Portability)
    Là khả năng của PM có thể chuyển được từ môi trường này sang môi trường khác.
    - Khả năng thích nghi (Adaptability)
    - Khả năng cài đặt (Installability)
    - Khả năng chung sống (Co-existence)
    - Khả năng thay thế được (Replaceability)

    Áp dụng mô hình ISO 9126
    Để có thể áp dụng được mô hình ISO-9126 vào thực tế, cần có những đại lượng đo đếm được. Do giới hạn của bài báo, chúng tôi xin mô tả sơ bộ một quy trình đánh giá chất lượng PM theo bộ chuẩn ISO - 14598 (Hình 2). 
    Để bắt đầu, ta xác định các tiêu chí cần đạt được. Một PM được coi là tiện dụng khi thỏa mãn những tiêu chí sau:
    o Dễ hiểu: người dùng mất ít thời gian, công sức để hiểu tính năng, hiểu các khái niệm trong sản phẩm và ứng dụng sản phẩm.
    o Dễ học: người dùng mất ít thời gian, công sức để học cách dùng PM.
    o Dễ điều khiển, thao tác: PM dễ điều khiển, dễ thao tác, tiết kiệm thời gian, công sức của người dùng.
    Sau khi xác định xong các tiêu chí, ta thiết lập phương pháp đo, độ đo (metric) để đảm bảo PM làm ra sẽ đạt đúng các tiêu chuẩn chất lượng theo các tiêu chí đã định. Khi độ đo mức tổng thể được thiết lập xong, ta phân nhỏ tiêu chí lớn thành các tiêu chí nhỏ hơn và thiết lập độ đo ở mức chi tiết.

    Ví dụ như:
    Dễ hiểu: Phần mềm phải có bản đồ, đường dẫn; có chỉ dẫn các chức năng, chỉ rõ cái gì làm được cái gì không; Không đòi hỏi người dùng phải nhớ nhiều; Nhất quán trong giao diện, trong các cách gọi và khái niệm.
    Dễ học: Hướng dẫn theo công việc của người dùng; Thiết kế cho phép dùng sản phẩm mà không cần đọc tài liệu; Sử dụng ngôn ngữ của người dùng; Đơn giản hóa và giao diện thân thiện (với cách đọc, cách nhìn của người dùng)
    Dễ điều khiển: Người dùng thực hiện những công việc cũ dễ dàng hơn; Kết quả đầu ra của sản phẩm đạt đúng yêu cầu của người dùng (không cần phải sửa đổi hoặc làm thêm các thao tác); Có hướng dẫn khắc phục và phòng tránh lỗi
    Khi các tiêu chí đã được chi tiết hóa đủ rõ ràng, ta có thể thiết lập các độ đo cụ thể giúp cho người kiểm định chất lượng có thể làm việc hiệu quả cũng như người sản xuất PM có trước định hướng, tránh phải làm lại và sửa đổi nhiều.

    Dưới đây là một số ví dụ thiết lập độ đo:
    Độ đo tiêu chí 1.a: Có sitemap và đường dẫn trong từng trang cho người dùng biết đang ở đâu
    o Có : Đạt yêu cầu
    o Không: Không đạt yêu cầu
    Độ đo tiêu chí 1.b: Số lượng trang không có chỉ dẫn chức năng chỉ rõ cái gì làm được, cái gì không
    o > 3 trang: Không đạt yêu cầu
    o < 3 trang: Tạm chấp nhận
    o Không có trang nào: Đạt yêu cầu
    Độ đo tiêu chí 1.d: Các nút bấm, menu có cùng kiểu trên tất cả các trang
    o Có: Đạt yêu cầu
    o Không: Không đạt yêu cầu
    Độ đo tiêu chí 3.a: Tỉ lệ thời gian tiết kiệm khi sử dụng PM
    o 10% tổng thời gian trước khi có PM:  Không đạt yêu cầu
    o ~30% tổng thời gian trước khi có PM:  Tạm chấp nhận
    o >40% tổng thời gian trước khi có PM:  Đạt yêu cầu ÿ 

    Phan Văn Hoà

    ID: B0402_32