• Thứ Hai, 09/02/2004 15:41 (GMT+7)

    Công nghiệp phần mềm Việt nam: câu chuyện đòn bẩy và người điều khiển

    Khi xây dựng Nghị Quyết (NQ) 07 của Chính Phủ về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm (CNpPM) giai đoạn 2000-2005, có những suy nghĩ ví nó như khoán trong nông nghiệp. Chỉ cần có chính sách, sau vài năm từ chỗ không đủ ăn ta trở thành nước xuất khẩu gạo vào loại hàng đầu. Sự thật không phải như vậy, nên cỗ xe CNpPM cứ tự đi, đi đến đâu thì tự biết! Triết lý tự đi rồi tự đến chắc không ổn, nên chúng ta cần công tác tổ chức rất lớn của Nhà Nước...18 tháng sau NQ 07, vẫn còn đó câu chuyện của dòn bẩy và người điều khiển...

    Cỗ xe thự hành
    Năm 1995, tại Tuần Lễ Tin Học lần V, Hội Tin Học TP.HCM có bài tham luận với ý chính là CNpPM Việt Nam thiếu một điểm tựa để bật cao, phỏng ý Euclid nói về sức mạnh của đòn bẩy: hãy cho ông một điểm tựa, ông có thể bật tung thế giới. Bài tham luận nói rằng điểm tựa đó là miễn thuế cho phần mềm non trẻ, rất bé nhỏ (chỉ khoảng vài triệu USD) của chúng ta thời bấy giờ. Vào những năm 95, nói điều ấy như nói về một giấc mơ. Thế rồi giấc mơ ấy đã trở thành hiện thực sau 5 năm với NQ 07 và Quyết Định 128 của Chính Phủ.
    Trao đổi về những gì cần làm sau NQ 07 và QĐ 128, một người có trách nhiệm và là bạn chia sẻ của tác giả những dòng viết này nói đại ý: Chúng ta cố gắng tạo ra các chính sách, còn việc làm phần mềm là việc của các công ty. Cả hai ý anh nói đều đúng.
    Các anh đã rất cố gắng góp phần tạo ra các chính sách. Các công ty phần mềm thì đang "tác chiến". Tiếc thay trong câu nói ấy ẩn chứa một mầm bệnh cố hữu của chúng ta là: những người làm chính sách thực sự mãn nguyện khi văn bản được cấp có thẩm quyền ký duyệt.
    Có lần được nói chuyện với một nhân vật cấp cao về Chỉ Thị 58 của Bộ Chính Trị, ông nói rất thật lòng rằng: Bọn mình đã "động mạnh", bây giờ là việc của các bạn. Tôi buồn quá mà chẳng biết nói sao. Bao đợt sóng truyền từ thực tiễn phát triển CNTT để có được cao trào là Chỉ Thị 58. Ngọn sóng lớn này, "ngọn sóng 58" đến lượt nó sẽ dội lại cộng đồng công nghệ thông tin (CNTT). Nhưng từ Bộ Chính Trị đến chúng tôi cần bao nhiêu bước sóng, cần bao nhiêu khâu phải lay động và lay động đồng bộ?
    Tương tự như vậy, từ NQ 07 đến việc chúng ta muốn có CNpPM với doanh số 500 triệu USD vào năm 2005 là một khoảng cách thăm thẳm, chẳng mấy ai biết đi từng chặng ra sao cho đến đích và dường như nhiều người rất yên tâm là sau NQ 07, sau QĐ 128 thì CNpPM Việt Nam sẽ "tự động" đi qua các chặng đường và gặt hái kết quả đại thể như sau:

    - 2001, doanh số CNpPM sẽ khoảng 70 triệu USD.
    - 2002, doanh số khoảng 120 triệu USD. 
    - 2003, khoảng 250 triệu USD. 
    - 2004, khoảng 400 triệu USD. 
    - 2005, sẽ là 500 triệu USD.
    Hôm nay, mốc 2001 đã qua. CNpPM Việt Nam đã lên đến mức 70 triệu USD chưa?
    Có một điều mà đến hôm nay nói ra thì nhiều người sẽ ngạc nhiên là: Chẳng ai biết CNpPM Việt Nam đích xác đang ở đâu và cũng chẳng làm thế nào biết được (vì chưa ai có trách nhiệm thống kê; mà cũng chưa có cách nào thống kê). Thế là cỗ xe CNpPM cứ tự đi, đi đến đâu thì tự biết!

    Vài số liệu giúp thamkhảo, suy nghĩ
    Tình hình TP.HCM cũng không khác tình hình chung là bao, nghĩa là vẫn chưa có cách nào có số liệu đầy đủ về CNpPM nói riêng và CNTT nói chung. Tuy vậy, Hội Tin Học TP.HCM đã cố gắng cho chúng ta những số liệu dù còn ít nhưng hết sức quan trọng để ngẫm nghĩ và suy đoán:
    - Tại TP.HCM, tính đến 10/2001, trên 950 công ty có đăng ký kinh doanh làm phần mềm. Trong đó, số có doanh số thực sự trong kinh doanh - sản xuất phần mềm, dịch vụ CNTT ước khoảng 150.
    - Những số liệu sau là của 60 công ty, trong đó đã có hầu hết các công ty Việt Nam có tên tuổi, số công ty nước ngoài hãy còn ít. Từ đó, có thể dự đoán những số liệu này phản ánh khoảng 50% số liệu thực tế của thị trường TP.HCM:
    - Tổng doanh số năm 2001 của 60 công ty: 950 tỷ đồng VN, trong đó phần mềm là 100 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 10,5%.

    Dự đoán số liệu đầy đủ sẽ gấp khoảng 2 lần số liệu của 60 đơn vị, tức tổng doanh số năm 2001 khoảng 1.900 tỷ đồng, phần mềm khoảng 200 tỷ (khoảng 13,3 triệu USD).
    - Nhân lực của 60 công ty là 2420, trong đó số người làm phần mềm là 920.
    - Nếu cho rằng 1000 trong tổng số 2420 người của 60 công ty này là làm trực tiếp việc kinh doanh - sản xuất thiết bị thì lực lượng gián tiếp (quản lý, hành chính, tiếp thị...) là khoảng 500 người. Giả sử trong số đó, có 250 phục vụ hoạt động phần mềm thì doanh thu 200 tỷ đồng là của khoảng 1.170 người trong guồng máy làm phần mềm.
    Như vậy năng suất trung bình của các công ty phần mềm là khoảng 85 triệu đồng/người/năm (~5666USD).
    Cứ giả sử rằng số người làm trong guồng máy phần mềm cả nước là gấp 2-3 lần tại TP.HCM. Từ các số liệu không đầy đủ của TP.HCM, chúng ta có thể suy ra rằng doanh số phần mềm 2001 nước ta vào khoảng 35-40 triệu USD.
    Đáng ra chúng ta phải lên đến tầng cao 70 triệu USD, nhưng mới được chừng nửa đường (hay là cao hơn? hay là thấp hơn? khó mà biết được!).

    CNpPM Cần gì trong năm 2002?
    Những số liệu năm 2000 của Hội Tin Học TP.HCM và các số liệu vừa nêu trên cho thấy doanh thu phần mềm tại TP.HCM năm 2001 tăng khoảng 17-18% so với năm 2000. Trong tình hình CNpPM quốc tế còn tiếp tục cơn suy thoái từ năm 2000 và mới chỉ bắt đầu hồi phục vào cuối năm nay thì các công ty phần mềm Việt Nam mới bước chân vào thị trường quốc tế đã bị lao đao, có công ty khá lớn phải cho nghỉ việc hàng loạt chuyên viên đã mất nhiều công đào tạo. Thế nhưng phần mềm nhỏ bé của ta vẫn tăng trưởng khoảng 18%! Như thế cũng có thể xem là thắng lợi. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia từng nhận định nếu ta không có chính sách gì đặc biệt thì tăng trưởng phần mềm Việt Nam từ mức rất thấp, hầu như chưa có gì, sẽ là 35-45% năm vào những năm đầu thế kỷ XXI. Ngay cả với tốc độ đó thì ta cũng chỉ có CNpPM năm 2005 với doanh số khoảng 150 triệu USD, bằng 30% mức mà NQ 07 đề ra. Chính vì vậy ta mới cần các chính sách đặc biệt qua NQ 07, QĐ 128, v.v...
    Những văn kiện trên có thể coi như ngọn đuốc soi đường. Tiếc rằng dường như chưa rõ đường đi. Triết lý tự đi rồi tự đến chắc không ổn. Khi xây dựng NQ 07, có những suy nghĩ ví nó như khoán trong nông nghiệp. Chỉ cần có chính sách, sau vài năm từ chỗ không đủ ăn ta trở thành nước xuất khẩu gạo vào loại hàng đầu. Sự thật không phải như vậy. Vấn đề là thế này:

    Cả nước ta làm nông nghiệp. Trước khoán, nền nông nghiệp ấy bị bó chặt. Khoán đã giải phóng lực nén đó, làm cho nông nghiệp cả nước bung ra. Đó là sự giải phóng, để từ chỗ mua gạo của thế gian trở thành nước cung ứng gạo cho thế gian.
    Với CNpPM thì hoàn toàn khác. Đó là một tiến trình ngược lại. Cả nước chưa làm CNpPM. NQ 07 tạo điều kiện hút lớp trẻ tài năng xông vào mặt trận này, một mặt trận đầy cam go. Đây là sự hút, sự lôi kéo. Nhưng có "cái đám trẻ tài năng" để mà hút không? Lôi kéo "đám trẻ tài năng" ấy (giả sử là có) về đâu?
    Chúng ta cần công tác tổ chức rất lớn của Nhà Nước thì NQ 07 mới đưa CNpPM Việt Nam tới con số 500 triệu USD vào năm 2005. Bằng không thì chúng ta vẫn sẽ có khoảng 150 triệu USD CNpPM mà chưa cần tới sức mạnh của NQ 07. Nói như cách nói của Hội Tin Học TP.HCM năm 1995 là ta đã có điểm tựa (NQ 07) nhưng chưa có đòn bẩy và người điều khiển đòn bẩy đó.

    Cái gì có thể xem như Đòn Bẩy? Đó là một kế hoạch nghiêm túc, khả thi, làm cho CNpPM Việt Nam phát triển gấp 3-4 lần tốc độ tự nhiên (tức phải khoảng 100% năm) trong 5-7 năm tới đây. Đây không phải là tốc độ cao so với Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Ireland, v.v... trong những năm họ bắt đầu, thậm chí cả khi CNpPM của họ đã khá chín muồi. Điều không thể thiếu nữa là Người Điều Khiển vững tin như Euclid với cái đòn bẩy và điểm tựa mơ ước của ông. Đó là cơ quan đủ năng lực thực thi kế hoạch ấy. 
    Với NQ 07, chúng ta đã có Điểm Tựa (NQ 07, QĐ 128 .v.v...) mà chưa có Đòn Bẩy (Kế Hoạch về CNTT nói chung và Kế Hoạch Quốc Gia Phát Triển CNpPM nói riêng); cũng chưa hiện rõ Người Điều Khiển mạnh mẽ tự tin như Euclid. Phải chăng đó là Ban Chỉ Đạo thực hiện Quyết Định 81 của Chính Phủ vừa nhóm phiên họp thứ nhất ngày đầu năm 2002?có lẽ chưa phải!
    CNpPM Việt Nam cần sải gấp những bước dài trên con đường phát triển. Song ngay trong năm 2002 này, liệu chúng ta sẽ có được Đòn bẩy và Người Điều khiển?

    TS Nguyễn Trọng

    ID: B0202_15