• Thứ Năm, 25/03/2004 09:58 (GMT+7)

    Nghiệp vụ ngân hàng đảm bảo an toàn cho chứng từ điện tử

    Về  Quyết Định 44, thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Lê Đức Thuý nói:

    Phỏng vấn Thống Đốc Lê Đức Thuý về việc triển khai Quyết Định 44/2002/QĐ-TTg (viết tắt là QĐ 44) của Thủ Tướng Chính Phủ: Cuộc phỏng vấn

    Với một văn bản dưới luật, phạm vi áp dụng lại hạn chế, lại là một vấn đề rất mới ở nước ta, khi triển khai sẽ không tránh khỏi những khó khăn và thiếu đồng bộ giữa cái cũ và cái mới, giữa hoạt động Ngân hàng và các ngành kinh tế khác.

    Nếu không pháp lý hoá những nghiệp vụ đã được ứng dụng tin học, sẽ không thể đảm bảo sự an toàn của hoạt động Ngân hàng.

    Thưa Thống Đốc, đâu là ý nghĩa quan trọng, thậm chí là lịch sử, của QĐ 44 đối với tiến trình triển khai thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam?

    Việc ứng dụng chứng từ điện tử, chữ ký điện tử trong hoạt động ngân hàng là tất yếu trong quá trình tin học hoá, nhằm từng bước mở rộng các dịch vụ hiện đại. Đối với ngân hàng, ưu tiên hàng đầu là xây dựng hệ thống thanh toán điện tử hiện đại phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nước, đồng thời, chuẩn bị những dịch vụ cần thiết phục vụ cho nhu cầu phát triển TMĐT ở Việt Nam trong tương lai. Ứng dụng chứng từ điện tử trong nghiệp vụ kế toán và thanh toán ngân hàng còn tạo điều kiện để ngân hàng Việt Nam tham gia vào các quá trình trao đổi, hợp tác kinh tế với các nước ASEAN thông qua các chương trình hợp tác kỹ thuật. Có thể nói: ý nghĩa quan trọng của QĐ 44  là, dưới một văn bản pháp lý, ngân hàng là ngành đầu tiên ở Việt Nam được Thủ Tướng Chính Phủ cho phép sử dụng chứng từ điện tử và chữ ký điện tử trong giao dịch, hạch toán, thanh toán. Xét về mặt xã hội, QĐ 44 còn có ý nghĩa đột phá trong việc khởi tạo môi trường pháp lý cho ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và ứng dụng CNTT trong các ngành kinh tế nói riêng.

    Với tư cách là người đứng đầu hệ thống ngân hàng Việt Nam, Thống Đốc đã tham mưu và đón nhận như thế nào đối với việc ra đời QĐ 44?

    Có thể khẳng định: đến nay, việc xây dựng một hành lang pháp lý cho các ứng dụng điện tử trong nền kinh tế nói chung và cho hoạt động ngân hàng nói riêng là một tất yếu, một đòi hỏi khách quan và bức xúc. Bởi đến nay, hầu hết các nghiệp vụ ngân hàng đã được tin học hoá. Hạch toán kế toán, thanh toán theo phương pháp thủ công không còn tồn tại. Do vậy, nếu không pháp lý hoá những nghiệp vụ đã được ứng dụng tin học thì không thể đảm bảo sự an toàn của hoạt động ngân hàng.

    Từ năm 1997, chúng tôi đã sử dụng chứng từ điện tử trong kế toán, thanh toán. Theo đề xuất của ngân hàng, Thủ Tướng Chính Phủ ra Quyết Định 196/TTg (QĐ 196) năm 1997, cho phép ngân hàng được sử dụng chứng từ điện tử trong kế toán thanh toán. Tiếp theo QĐ 196, Ngân Hàng Nhà Nước đã ban hành nhiều quy định, quy chế hướng dẫn thực hiện như: Quyết Định 307-QĐ/NH2 ("Quy định ký hiệu của chứng từ và ký hiệu về nội dung nghiệp vụ liên quan đến thanh toán") và Quyết Định 308-QĐ/NH2 ("Quy chế lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý, bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử của các ngân hàng và tổ chức tín dụng").

    Quyết Định 196/TTg đã đi vào cuộc sống nhưng đến nay đã bộc lộ những hạn chế, nhất là trong bối cảnh ngân hàng đang hoàn thiện các văn bản pháp lý để vận hành hệ thống thanh toán liên ngân hàng do Ngân Hàng Thế Giới tài trợ. Để hệ thống thanh toán liên ngân hàng hoạt động tốt, ngoài yếu tố kỹ thuật, nghiệp vụ, cần có một quyết định về chứng từ điện tử và chữ ký điện tử đầy đủ hơn, tiên tiến hơn, phù hợp với tình hình thực tế. Với những nhu cầu thực tế đòi hỏi, Ngân Hàng Nhà Nước đã trình Thủ Tướng ra Quyết Định 44/2002/QĐ-TTg.

    Hiện nay, chúng tôi đang chỉ đạo các Vụ, Cục chức năng soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết Định 44, nhanh chóng đưa quyết định của Thủ Tướng đi vào cuộc sống...

    Tuy vậy, xét trên quan điểm hệ thống, trong bối cảnh Quốc Hội (Khoá X) chưa thông qua luật về chữ ký điện tử, việc triển khai QĐ 44 sẽ gặp những khó khăn khách quan và chủ quan nào?

    Đối tượng áp dụng của QĐ 44 chỉ hạn chế đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (bao gồm Ngân Hàng Nhà Nước, ngân hàng và tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán), do vậy nó không thể đảm bảo pháp lý cho TMĐT nói chung. Về lâu dài, đúng là cần có luật về chữ ký điện tử áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, khi chưa có luật, QĐ 44 cũng đã giải quyết được một nhiệm vụ quan trọng là công nhận về mặt pháp lý đối với chứng từ điện tử và chữ ký điện tử trong hoạt động hạch toán kế toán và thanh toán. Với một văn bản dưới luật, phạm vi áp dụng lại hạn chế, là một vấn đề rất mới ở nước ta, khi triển khai sẽ không tránh khỏi những khó khăn và thiếu đồng bộ giữa cái cũ và cái mới, giữa hoạt động ngân hàng và các ngành kinh tế khác. Mong mỏi của ngành ngân hàng là nước ta cần sớm xây dựng và ban hành được bộ luật hoàn chỉnh, tạo hành lang pháp lý để đưa ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước. Với tư cách là Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước, tôi sẽ đề xuất các giải pháp với Chính Phủ quan tâm nhiều hơn để thực hiện tốt TMĐT nếu có nhu cầu. 

    Cần có những điều kiện nào để các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán áp dụng QĐ 44 trong thực tế?

    Để triển khai QĐ 44, Ngân Hàng Nhà Nước cần ban hành một số quy định, quy chế liên quan, như quy định về tiêu chuẩn, quy cách mẫu biểu, chỉ tiêu phản ánh, cấu trúc dữ liệu của chứng từ điện tử và việc lập, cấp phát, quản lý các mật mã trong thanh toán điện tử, kể cả chữ ký điện tử. Về phía mình, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải chuẩn bị các phương án thực hiện sao cho có hiệu quả cao nhất, đặc biệt chú ý đến hệ thống an toàn và bảo mật khi khai thác, xử lý và lưu trữ chứng từ điện tử, kể cả việc xây dựng các thiết bị dự phòng để quản lý chặt chẽ chứng từ điện tử.

    Một điều kiện nữa cũng hết sức quan trọng là sự chỉ đạo của Chính Phủ, các Bộ, Ngành và địa phương. Kênh truyền thông thiếu ổn định, chưa rộng khắp cũng là một vấn đề cần xem xét.

    Các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân không cung ứng dịch vụ thanh toán sẽ không được "hưởng" gì từ Quyết Định 44?

    Thực chất đối tượng phục vụ của hoạt động thanh toán nói chung và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng nói riêng là phục vụ toàn xã hội. Do vậy, QĐ 44 sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và cho mỗi người dân nếu tham gia trong hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Hiện nay,  vì nhiều lý do, chúng ta chưa mở rộng các loại hình dịch vụ như Home Banking, Internet Banking... Vì vậy, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân khác chưa trực tiếp sử dụng chứng từ điện tử để thanh toán, mà phải thông qua các tổ chức được phép cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện việc thanh toán với đối tác. Dù gián tiếp nhưng họ cũng đã được hưởng phần lợi do sự thuận lợi, nhanh chóng, chính xác của dịch vụ thanh toán mang lại.

    Nếu như có sự cố, biến cố kỹ thuật, toàn bộ chứng từ điện tử lưu trữ bị phá huỷ thì tiền gửi của dân chúng, của tổ chức kinh tế - xã hội sẽ ra sao, thưa Thống Đốc?

    QĐ 44 đã đề cập rõ ràng về đảm bảo an toàn khi sử dụng chứng từ điện tử, bao gồm an toàn trên đường truyền, trên vật mang tin, trong lưu trữ, khi truy cập... Với việc bảo vệ chứng từ điện tử bằng các công nghệ hiện đại và nhiều phương pháp kỹ thuật, ta có thể hoàn toàn yên tâm về sự an toàn.

    Bởi vì, thứ nhất, ngoài hệ thống thiết bị lưu trữ ra, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải xây dựng hệ thống dự phòng, các thông tin này được lưu trữ không dưới 2 địa điểm, 2 thiết bị lưu trữ. Nếu có sự cố ở một địa điểm nào đó, thì sẽ còn một cơ sở dự phòng.

    Thứ hai: Theo Điều 6 của QĐ 44, chứng từ điện tử còn được in ra giấy, những cán bộ có trách nhiệm của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải kiểm soát, ký xác nhận và đóng dấu. Như vậy, chúng ta không chỉ lưu trữ trên các file ở 2 nơi, mà còn cả trên giấy, càng không thể xảy ra hiện tượng mất hoàn toàn dữ liệu lưu trữ.

    Xin cảm ơn Thống Đốc.

    Trọng Sơn - Thu Hiền

    ID: B0205_18