• Thứ Ba, 30/03/2004 09:49 (GMT+7)

    Internet tốc độ cao: Hấp dẫn ADSL

    Khi khai thác internet, các nhà cung cấp dịch vụ nhận thấy người khai thác dịch vụ chủ yếu là để lấy thông tin (download), còn việc đẩy thông tin lên mạng (upload) là rất ít. Vậy làm sao để vẫn trên đường dây thuê bao cáp đồng hiện có mà có thể tăng được tốc độ khai thác của khách hàng? Công nghệ ADSL ra đời để đáp ứng yêu cầu đó.

    Tối ưu hoá cho truy nhập internet...

    Công nghệ ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line) - đường thuê bao số bất đối xứng - là công nghệ băng rộng mới (broadband) cho phép truy nhập internet với tốc độ cao và mạng thông tin số liệu bằng cách sử dụng đường dây điện thoại sẵn có.

    ADSL gồm 2 kênh thông tin đồng thời là kênh thoại và kênh truy nhập internet (do tần số của băng thoại và tần số của băng truyền số liệu là khác nhau). Vì thế, bạn có thể vừa nói chuyện điện thoại, vừa vào internet trên cùng một đường dây điện thoại hiện nay. Bạn cũng không cần phải quay số modem mỗi khi kết nối mạng nữa.

    Công nghệ ADSL cho phép phần băng thông chiều xuống (từ phía nhà cung cấp dịch vụ tới phía khách hàng) lớn hơn phần băng thông chiều lên (từ phía khách hàng tới nhà cung cấp dịch vụ). ADSL cũng thể hiện khả năng tối ưu hóa cho truy nhập internet, nhờ tốc độ tải dữ liệu xuống (download) lớn hơn nhiều so với tốc độ truyền dữ liệu lên (upload). Theo tính toán, tốc độ đường xuống (download) của ADSL là từ 1,5 - 8 Mbps, nhanh hơn tốc độ modem 56K 140 lần và nhanh hơn tốc độ ISDN 128K 60 lần. Tốc độ đường lên (upload): từ 64 đến 640 Kbps.

    Có thể so sánh tốc độ khi tải về 10 MB dữ liệu như sau: nếu ta truy nhập gián tiếp qua modem 56K, tốc độ lý thuyết là 7Kbps, còn tốc độ thực tế chỉ là 4Kbps. Như vậy, thời gian tải về = 1024:(4*60) = 42,6 phút. Nếu truy nhập trên nền công nghệ ADSL thì với tốc độ 256Kbps, ta mất 7,6 phút (nếu tốc độ là 2Mbps, sẽ chỉ mất dưới 1 phút). Với tốc độ như vậy, ADSL có khả năng đáp ứng cho các ứng dụng mới đòi hỏi thời gian thực, đa phương tiện và dịch vụ video băng rộng chất lượng cao.

    Một ưu điểm khác của ADSL là dùng bao nhiêu, trả tiền bấy nhiêu nên bạn sẽ trả cước theo khối lượng truyền số liệu đi (theo Mbyte). Như vậy, thời gian đọc email, tin thời sự... trên mạng do không truyền số liệu nên không phải trả cước, đồng thời bạn cũng không cần vội vàng khi vào Net như hiện nay.

    Với nhà cung cấp dịch vụ, ADSL cũng là một giải pháp mang lại lợi ích cho họ bởi khả năng tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có. Nhà khai thác chỉ phải bảo dưỡng thuê bao của dịch vụ điện thoại truyền thống để cung cấp dịch vụ truyền số liệu và thoại.

    Về hình thức, kết nối ADSL là kết nối trực tiếp vào cổng của một thiết bị (DSLAM) và chiếm luôn cổng đó. Việc cung cấp địa chỉ IP hiện cũng có nhiều giải pháp: cung cấp một địa chỉ IP tĩnh (cố định), hoặc địa chỉ IP động, tuỳ theo nhà cung cấp dịch vụ.

    ... Và những đặc điểm khác

    Sự khác biệt lớn giữa ADSL và ISDN (Integrated Services Digital Network - mạng liên kết số đa dịch vụ) là: ISDN sử dụng công nghệ chuyển mạch kênh, phục vụ chủ yếu dịch vụ hội nghị truyền hình, trong khi ADSL sử dụng công nghệ chuyển mạch gói, phục vụ nhiều hơn cho mục đích truy cập internet.

    ADSL đã được nghiên cứu và triển khai thương mại tại nhiều nước trên thế giới. Theo Tổng Công Ty Bưu Chính Viễn Thông (VNPT), tại Việt Nam sẽ triển khai ADSL khá thuận lợi, do tận dụng được trên 3 triệu đường dây điện thoại sẵn có. VNPT dự kiến sẽ chính thức triển khai dịch vụ ADSL trong quý IV/2002.

    Trước mắt, VNPT sẽ cung cấp một số dịch vụ trên nền công nghệ ADSL:

    - Dịch vụ hội nghị truyền hình;

    - Video theo yêu cầu: chọn phim và xem khi có thời gian; tham gia các chương trình đào tạo qua video theo nhu cầu, sở thích; cũng có thể chọn mua nhà, hàng hóa, chọn địa điểm du lịch qua video;

    - Truyền hình trực tuyến: chọn kênh truyền hình ưa thích, trả cước phí theo tháng hoặc theo thời gian sử dụng, đồng thời vẫn sử dụng được tất cả các dịch vụ khác;

    - Kết nối mạng LAN/WAN (sử dụng địa chỉ IP cố định): kết nối người sử dụng từ xa tới mạng công ty; kết nối 2 mạng LAN với nhau (SHDSL); IP mạng riêng ảo (IP-VPN) cho doanh nghiệp...ÿ

    Các phương thức truy nhập hiện nay
    Tại Việt Nam, khách hàng sử dụng dịch vụ truy cập internet có thể kết nối mạng bằng nhiều phương thức khác nhau:

    Truy nhập qua modem điện thoại: Tốc độ chậm 56Kbps; khả năng sẵn sàng thấp (modem phải quay số mỗi khi kết nối mạng); và khi đã truy nhập internet thì đường điện thoại sẽ bận (bạn có thể bị lỡ các cuộc điện thoại gọi đi, gọi đến).

    ISDN - mạng số đa dịch vụ (gọi VNN1267): Tốc độ truy nhập mạng cao 128Kbps (với ISDN2), và trong khi vào mạng vẫn có thể nhận các cuộc điện thoại đến, gọi điện thoại đi. Tuy nhiên, điểm hạn chế của phương thức kết nối này cũng là không luôn sẵn sàng (phải quay số), và không tối ưu hóa cho sử dụng internet (bởi tốc độ download và upload là như nhau).

    Thuê kênh kết nối trực tiếp (leased line):  Tốc độ cao (2Mbps); luôn sẵn sàng (không phải quay số - always on). Tuy nhiên, người dùng cần có thêm đường cáp mới cũng như một số thiết bị đặc chủng, nên chi phí sẽ cao. Phương thức này chỉ hiệu quả khi sử dụng với khối lượng truyền tải thông tin rất lớn (các doanh nghiệp phần mềm, các cơ sở đào tạo, các nhà cung cấp dịch vụ internet...).

    Phương thức truy nhập quang: Mạng truy nhập quang có thể đảm nhận các dịch vụ băng rộng và tốc độ cao, cũng như tạo ra các đường truyền dung lượng lớn. Ưu điểm: khoảng cách truyền cao; không bị ảnh hưởng của điện từ; tính bảo mật cao; kích thước khối lượng cáp nhỏ. Tuy vậy, việc thay thế mạng hiện tại bằng một mạng quang băng rộng sẽ rất khó thực hiện ngay do đòi hỏi vốn đầu tư lớn.

    Phương thức truy nhập vô tuyến: Các phương pháp để sử dụng phổ tần số cho việc truy nhập của khách hàng là TDMA, FDMA, CDMA. Tuy có nhiều công nghệ khác nhau nhưng phần lớn các đề xuất công nghệ đều tập trung vào CDMA. Thông tin di động băng rộng 3G là một giải pháp lý tưởng trong tương lai, mở rộng khả năng liên kết mạng. Dĩ nhiên, điều này lại đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thay đổi nhiều phần cứng khi chuyển đổi từ các hệ thống thế hệ thấp hơn.

    (Nguồn: VNPT)

     

    ID: B0207_36