• Thứ Hai, 19/04/2004 10:26 (GMT+7)

    Doanh nghiệp dệt may TP.HCM, sau 2005: Không chỉ hiện đại hoá phần cứng của sản xuất...

     


    TS Phạm Ngọc Tuấn

    Ngày 18/7/2002, UBND TP.HCM đã có Thông Báo số 213/TB-VP, đồng ý cho triển khai Dự Án 'Hiện đại hoá thiết bị dệt may với chi phí thấp' do Sở Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường đề xuất, nhằm góp phần phát huy nội lực về khoa học công nghệ và sản xuất công nghiệp để tăng năng suất, chất lượng và giảm chi phí. Trả lời phỏng vấn của Thế Giới Vi Tính (PC World B) về Dự Án này, TS Phạm Ngọc Tuấn, phó Khoa Cơ Khí trường Đại Học Bách Khoa TP.HCM, phó chủ nhiệm Dự Án, nói:

    Dự án ra đời dựa trên nội dung các dự án khác từng được đề nghị, và dữ liệu về máy móc, thiết bị đã thu thập được qua đề tài nghiên cứu khoa học 'Xây dựng chương trình mục tiêu phát triển ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2001-2005' (do Sở Công Nghiệp chủ trì), cùng với sự trao đổi nhiều lần giữa lãnh đạo UBND TP.HCM, Sở KHCN&MT, Hiệp Hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM và các chuyên gia có liên quan, kể cả dựa vào những chuyến khảo sát tại các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn Thành Phố.

    Theo đó, mục tiêu của Dự Án là làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để khắc phục từng bước hiện trạng giá hàng may Việt Nam thường cao hơn giá hàng của các nước trong khu vực khoảng 10-15 % và cao hơn giá hàng Trung Quốc khoảng 20%, mặc dù giá nhân công Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực.

    Chúng ta cần biết rằng các doanh nghiệp may của Trung Quốc giảm được chi phí sản xuất  là nhờ có được ưu thế về chi phí khấu hao thiết bị thấp, do hiện nay các doanh nghiệp may của họ sử dụng trung bình khoảng 80% các thiết bị may chế tạo trong nước.

    Theo chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam, ngành này sẽ đầu tư  20.500 tỷ đồng trong giai đoạn 2001-2005, và 18.000 tỷ đồng ở giai đoạn 2006-2010 để mua sắm trang thiết bị (dự kiến đạt kim ngạch xuất khẩu 5 tỷ USD vào năm 2005, và 10 tỷ USD vào năm 2010). Đó vừa là thách thức, vừa là cơ hội đặt ra cho các ngành cơ khí chế tạo, điện - điện tử - tự động hóa, kỹ thuật hệ thống và công nghệ thông tin để hợp tác phấn đấu chiếm thị phần thiết bị dệt may trong những năm  tới, không chỉ vì lợi ích của bản thân các ngành này mà cho cả ngành dệt may và nền  kinh tế đất nước nói chung.

    Đến năm 2004, có 500 máy dệt kiếm(trong ảnh) sẽ được hiện đại hóa bằng điều khiển số nhờ máy tinh.

    Dự Án dựa trên cơ sở nào để ưu tiên chọn nâng cấp tự động hoá trước hết một số loại thiết bị dệt may cụ thể, thưa ông?

    - Xuất phát để chọn chính là từ nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may, và khả năng công nghệ đáp ứng nhu cầu đó.

    Ví dụ: việc hiện đại hóa các máy dệt Jacquard truyền thống bằng các bộ điều khiển số nhờ máy tính (CNC) là yêu cầu của một số doanh nghiệp dệt đã từng ứng dụng hệ thống CAD/CAM thiết kế mẫu và đục bìa tự động cho các máy Jacquard dệt vải, khăn lông và mền len, do trường Đại Học Bách Khoa và Hội Tin Học TP.HCM hợp tác triển khai (xem bài 'Giải pháp 'Jacquard': Giải bài toán CAD/CAM để giải những bài toán khác', tr. 29-34, PC World B tháng 5/2002). Sử dụng máy dệt được CNC hóa là nhằm nâng cao tính linh hoạt, khả năng thay đổi mẫu mã nhanh chóng, gia công các sản phẩm phức tạp, nhiều hoa văn, có mối liên hệ rất lớn với năng suất và chất lượng cao. Đó là những bước đi tất yếu và mang tính hội nhập mà ngành dệt thế giới đã và đang làm.

    Việc hiện đại hóa máy dệt kim đan ngang phẳng với bộ điều khiển số tự động và lập trình được có thể làm tăng năng suất đến hai lần, vì một công nhân có thể đứng nhiều máy. Đây là yêu cầu của doanh nghiệp, do họ thấy người Trung Quốc đã làm như vậy. Trong khi đó, mua hàng loạt các máy tự động đời mới nhập từ nước ngoài vào thì không chịu nổi vì giá quá cao. Quan trọng hơn nữa, theo Dự Án, việc hiện đại hoá loại thiết bị này cũng nhằm giúp tăng sản lượng theo kế hoạch phát triển nhà máy: doanh nghiệp vừa hiện đại hóa hàng loạt máy hiện có với chi phí thấp hơn, vừa không cần phải tìm mặt bằng mới và tuyển dụng thêm công nhân có tay nghề (hiện đang thiếu trầm trọng).

    Việc hiện đại hóa máy may một kim với chi phí thấp sẽ tăng thêm chức năng cắt chỉ tự động và lập trình được, góp phần tăng năng suất trên dưới hai lần, tùy theo đường may. Cần biết là ngành dệt may Việt Nam hiện có 190.000 máy may, nên nhu cầu hiện đại hóa máy may là khá lớn.

    Dây chuyền treo tự động trong Phân Xưởng May, đặc trưng cho phương thức sản xuất may tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới, là hệ thống sản xuất theo đơn vị (Unit Production System - UPS), có khá nhiều ưu điểm. Ngay ở các nước tiên tiến, việc áp dụng loại dây chuyền này có thể làm tăng năng suất đến 30%. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc: vào cuối năm 1994, nước này có khoảng 20 UPS được sử dụng; chủ yếu nhập từ Mỹ, Thụy Sĩ, Nhật Bản và Tây Ban Nha. Đến tháng 6/1998, có 50 UPS được sử dụng tại Trung Quốc; trong đó có 20 được nhập từ nước ngoài, còn lại được chế tạo trong nước. Tại Việt Nam, hiện có khoảng sáu - bảy  UPS được sử dụng. Như vậy, việc triển khai chế tạo dây chuyền treo tự động với chi phí thấp từ TP.HCM là đúng hướng và kịp thời.

    Hiện TP.HCM đã 'hạch toán' chi phí cần đầu tư cho việc hiện đại hoá các thiết bị và UPS ấy, nhất là để sản xuất hàng loạt cho các doanh nghiệp với giá thành hạ so với hàng nhập ngoại?

    - Đây là... vấn đề khá 'nhạy cảm'. Bởi điều quan trọng là phải xác định chi phí sản xuất thiết bị trong tình huống sản xuất hàng loạt sau này, chứ không chỉ là sản xuất mẫu ban đầu. Vì vậy, chỉ có thể xác định tương đối chính xác sau khi có được những thiết bị đầu tiên. Hướng phấn đấu là đạt giá thành ở mức bằng khoảng 30-50 %, tùy theo chủng loại thiết bị, so với giá nhập ngoại với chất lượng và tính năng tương đương.

    Máy dệt thoi đang được điều khiển bằng bộ bìa đục lỗ sẽ được hiện đại hóa bằng điều khiển số nhớ máy tính (CNC). Đến năm 2004, sẽ nâng cấp, tự động hóa 3.000 máy dệt thoi.

    Bao giờ sẽ có các thiết bị đầu tiên ấy, và đâu là lộ trình tiếp theo của Dự  Án, thưa ông?

    - Cùng với quyết tâm và sự hỗ trợ kinh phí của UBND TP.HCM cùng Sở KHCN&MT, chúng tôi phấn đấu vào tháng 10/2002 sẽ có những mẫu thiết bị đầu tiên để giới thiệu rộng rãi cho cộng đồng các doanh nghiệp dệt may về đặc tính kỹ thuật, tính năng, giá cả. Đồng thời, chúng tôi cũng đang triển khai các công việc chuẩn bị tiếp nhận thiết bị và đào tạo nhân lực tại các doanh nghiệp được chọn. Đây là các doanh nghiệp có lãnh đạo đi tiên phong, cán bộ kỹ thuật vững vàng và đã từng phối hợp tốt với chúng tôi trong việc ứng dụng công nghệ mới trong thời gian qua, được Hiệp Hội Dệt May Thêu Đan Thành Phố giới thiệu.

    Từ nay đến tháng 10 khi đã có các máy mẫu, chúng tôi sẽ điều tra chính xác nhu cầu hiện đại hóa thiết bị, từ đó xác định cụ thể hơn lộ trình thực hiện Dự Án một cách hợp lý.

    Thực sự, chúng tôi mong rằng Dự Án này không chỉ dừng ở chỗ hiện đại hóa bằng cách tự động hóa và tin học hóa bảy-tám loại thiết bị, dây chuyền sản xuất  dệt may. Qua Dự Án này, cần có điều tra sâu rộng hơn về nhu cầu hiện đại hóa các chủng loại trang thiết bị của những doanh nghiệp dệt may một cách cụ thể và từ đó xác định thị trường nội địa hóa công nghệ và thiết bị dệt may.

    Mặt khác, cần có một cái nhìn toàn diện về nhu cầu của doanh nghiệp dệt may. Trong  hội thảo 'Doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải làm gì sau 2005?' vào các ngày 12-14/8/2002,  có sáu vấn đề nổi cộm được đặt ra: năng suất, phát triển sản xuất, tài chính, tiếp thị, xúc tiến thương mại và quản lý để doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia được vào thương mại toàn cầu. Để giải quyết sáu vấn đề nói trên, không chỉ phải hiện đại hóa 'phần cứng của sản xuất' (tức là thiết bị gia công), mà còn phải hiện đại hóa 'phần mềm của sản xuất' (tức là các hoạt động quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh).

    Để không bị tụt hậu, cô lập và thua thiệt, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nhanh chóng đuổi kịp để hòa nhập với thương mại dệt may thế giới bằng cách áp dụng các công cụ quản lý hiện đại mà người ta đang sử dụng hàng ngày một cách có hiệu quả, như hoạch định nguồn lực sản xuất (MRP II), hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), quản lý chuyền cung ứng (SCM), quản lý tài sản số (DAM), trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)... Đó là những nền tảng để bước vào thương mại điện tử hoặc kinh doanh điện tử thực sự.

    Hữu Thiện

     

    ID: B0209_14