• Thứ Sáu, 25/06/2004 03:22 (GMT+7)

    Chính sách cho lắp ráp máy tính trong nước: Để tránh bế tắc như Quyết Định 19/2001

    Dự án "2 triệu máy tính cá nhân giá rẻ cho cộng đồng" mà Bộ BCVT chuẩn bị công bố đang thu hút quan tâm của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, bàn về "năng lực lắp ráp" máy tính trong nước thì, không ai muốn lặp lại bế tắc trước đây khi thực hiện QĐ19/2001 về sản phẩm công nghiệp trọng điểm máy tính...

    Lời BBT: Trong vài năm trở lại đây, công nghiệp lắp ráp máy tính cá nhân trong nước phát triển rất mạnh. Song song với những dòng máy tính Việt  đã có tên tuổi là nhiều thương hiệu mới, tạo ra một thị trường máy tính nội địa áp đảo trước sản phẩm từ nước ngoài. Chính sách hỗ trợ của Nhà Nước cho ngành công nghiệp này đã góp phần tạo thuận lợi cho các DN sản xuất máy tính đang dần chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên, để đạt những mục tiêu cụ thể, mà trước mắt là '2 triệu PC giá rẻ cho cộng đồng', cần có những biện pháp thiết thực hơn. Một quan điểm về vấn đề này được tác giả Thu Trang - một người trong cuộc, trình bày với bài viết sau. BBT mong nhận được ý kiến đóng góp.

    Dự án '2 triệu máy tính cá nhân giá rẻ cho cộng đồng' mà Bộ BCVT chuẩn bị công bố thực sự thu hút được quan tâm của nhiều doanh nghiệp (DN) và giới trẻ. Tuy nhiên khi bàn về 'năng lực lắp ráp' máy tính của DN trong nước thì, không ai muốn lặp lại những bế tắc trước đây khi thực hiện Quyết Định (QĐ) 19/2001 về sản phẩm công nghiệp trọng điểm máy tính (MT). Với kinh nghiệm của người trong cuộc, tôi muốn chia sẻ một số suy nghĩ.           

    Trước hết, cần thấy quy mô SX MT ở nước ta chưa đến lúc phát triển lớn được. Với nhu cầu 500.000 máy/năm đến năm 2005 như dự báo, hay như 1 triệu đi nữa, thì một nhà máy lớn của nước ngoài chỉ SX trong 3 đến 6 tháng là đủ cung cấp. Quy mô nhỏ, nhu cầu chưa ổn định đòi hỏi phải thay đổi cách nhìn 'công nghiệp nặng' về lắp ráp MT sang cách 'tiểu thủ công nghiệp', miễn là có hiệu quả. Sản phẩm công nghiệp là trọng điểm hay ưu tiên không phải vì nó là 'công nghiệp nặng', mà vì Nhà Nước muốn thúc đẩy nó phát triển.

    Công nghệ lắp ráp không phải là yếu tố cần quan tâm nhất

    QĐ 19/2001 yêu cầu phải SX MT trên dây chuyền. Trong khi ở VN, SX linh kiện, cấu kiện MT trong nước với giá cạnh tranh có lẽ chưa thể nghĩ đến trong nhiều năm nữa, cho nên SX MT thực chất là lắp ráp từ các cấu kiện rời, tức là dựa trên công nghệ 'bắt vít' (thuật ngữ chuyên ngành gọi là 'tích hợp hệ thống' với 10 mức tích hợp khác nhau để tiện cho đặt hàng). Thực chất là không có gia công, chế tạo trên dây chuyền, nên dây chuyền chỉ là một băng tải làm cái việc vận chuyển vật lắp ráp từ vị trí thao tác này sang vị trí khác. Vì thế, nếu làm đủ các công đoạn lắp ráp và kiểm tra, thì dù một người 'bắt vít trên bàn' toàn bộ máy, hay nhiều người 'bắt vít trên băng tải' theo dây chuyền công việc, chất lượng sản phẩm cuối cùng vẫn như nhau. Duy có điều chắc chắn là nếu sản lượng thấp, SX không đều đặn và tính đủ chi phí, thì giá thành lắp ráp theo dây chuyền sẽ cao hơn rất nhiều, khó cạnh tranh.

    Điều đó có nghĩa là đòi hỏi công nghệ 'bắt vít' trên băng tải là sự áp đặt không cần thiết. Cái cần là phải công bố chất lượng và giao hàng đúng chất lượng công bố.

    Đừng nhầm ISO với chất lượng sản phẩm

    Gắn thương hiệu Việt Nam và trưng logo ISO trên quảng cáo sản phẩm để khách hàng yên tâm về chất lượng sản phẩm là việc bình thường của DN. Nhưng vô tình hay cố ý nhầm lẫn ISO là chứng chỉ chất lượng sản phẩm thì không nên. ISO thực chất chỉ là những yêu cầu đối với hệ thống quản lý chất lượng của một DN. ISO có thể cấp cho thiết kế, lắp ráp máy tính 'trên băng tải' lẫn lắp ráp 'trên bàn', và tuyệt nhiên không là chứng chỉ xác nhận chất lượng của sản phẩm xuất xưởng. Hiện nay, chưa thấy nhà lắp ráp máy tính nào trong nước công bố chỉ tiêu chất lượng máy tính, dù có công bố đặc tính sản phẩm và chứng chỉ ISO. Trong khi ở nước ngoài, quan tâm đầu tiên là chỉ tiêu AQL (Acceptable Quality Level - Giới hạn chất lượng chấp nhận) để đặt hàng và kiểm tra mẫu ngẫu nhiên khi nhận hàng, và các chứng chỉ an toàn; sau đó mới đến ISO. Ngoài ra, nếu dùng thiết kế của nhà SX, thì người mua, ngoài đặc tính, còn quan tâm thêm đến benchmark (điểm định chuẩn) và các yêu cầu đặc thù khác. Vì vậy, các tổ chức mời thầu hay coi trọng các yêu cầu về AQL, benchmark và yêu cầu an toàn theo TCVN với chỉ số cụ thể khi mời thầu.

    Cần có quan niệm khác về nội địa hóa

       

      QĐ số 19/2001/QĐ-TTg ngày 20/02/2001 về việc bổ sung sản phẩm máy tính vào danh mục sản phẩm công nghiệp trọng điểm được hỗ trợ theo QĐ số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000.
      Thông tư liên tịch của bộ Tài Chính-Công Nghiệp-Tổng Cục Hải Quan số 176/1998/TTLT-BTC-BCN-TCHQ ngày 25/12/1998 hướng dẫn thực hiện chính sách thuế theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm, phụ tùng thuộc ngành cơ khí-điện-điện tử.
      Thông tư liên tịch của bộ Tài Chính - Công Nghiệp-Tổng Cục Hải Quan số 120/TTLT-BTC-BCN-TCHQ ngày 25/12/2000 về việc bổ sung sửa đổi chính sách thuế theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm, phụ tùng thuộc ngành cơ khí - điện - điện tử hướng dẫn tại thông tư liên tịch số 176/1998/TTLT-BTC-BCN-TCHQ ngày 25/12/1998 của liên bộ tài chính-Công Nghiệp-Tổng Cục Hải Quan.
    Thông tư số 04/2001/TT-BCN ngày 06/6/2001 của bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp hướng dẫn thực hiện QĐ số 19/2001/QĐ-TTg ngày 20/02/2001 về việc bổ sung sản phẩm máy tính vào danh mục sản phẩm công nghiệp trọng điểm được hỗ trợ theo QĐ số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000.
    QĐ số 1944/1998/QĐ/BTC ngày 25/12/1998 của Bộ Tài chính về việc ban hành quy định thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa đối vớ các sản phẩm, phụ tùng thuộc ngành cơ khí - điện - điện tử.

     

    Trước tiên cần nhận thấy việc thừa nhận các thiết kế sẵn có của nhà SX nước ngoài qua linh kiện và cấu kiện nhập khẩu là 'bán cái mình có', chứ không phải 'bán cái người dùng cần', bất chấp thiết kế đó gây lãng phí hoặc có phù hợp với ứng dụng trong nước hay không. Điển hình là máy tính để bàn mạnh vẫn được nhập vào VN để trang bị cho... công việc văn phòng. Lãng phí kiểu này là phổ biến ở nước ta. Nhưng muốn đưa thiết kế của VN vào máy, thì phải gia công ở nước ngoài  mới có giá thành thấp. Vậy 'nội địa hóa' nên là thay thế giá trị lắp ráp ngoài nước bằng trong nước, hay là tiết kiệm đầu tư bằng thiết kế VN thích hợp với công việc của mình? Vì vậy, hãy quan niệm lại 'nội địa hóa' trước hết là thay thế thiết kế của nước ngoài bằng thiết kế phần cứng và PM thích hợp với ứng dụng đặc thù VN. Thiết nghĩ, nếu không như vậy, thì khó mà có được '2 triệu máy tính giá rẻ cho cộng đồng' với giá dưới 250 USD!

    Để đánh giá mức độ nội địa hóa vẫn cần có một chỉ tiêu định lượng. Tuy nhiên, cần xây dựng công thức tính cho thích hợp, không thể xác định tỷ lệ nội địa như ở Thông Tư 176/1998 và 120/2000, và yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu là 15% của Thông Tư 04. Bất hợp lý ở chỗ:

    - Giá mua linh kiện, cấu kiện với SX nhỏ của ta không thể thấp được như của các nhà SX thiết bị số OEM nước ngoài (để thấp hơn 85% giá trị nhập khẩu máy nguyên chiếc).

    - Chỉ cần màn hình được lắp ráp trong nước, thì có thể nhập nguyên chiếc thân máy tính, vẫn có tỷ lệ nội địa hóa xấp xỉ 25% !

    - Trong khi đó, có thể chỉ cần làm bao bì, sách hướng dẫn sử dụng trong nước lại là đủ yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa (giả sử vận dụng tỷ lệ như sản phẩm điện tử là 20%)

    Cho nên điều kiện 'tỷ lệ nội địa hóa ít nhất là 15%' là vô nghĩa, nếu như trong giá trị máy chỉ tính giá trị phần cứng, không tính đến giá trị thiết kế và PM tự làm trong nước.

    Thay lời kết

    Cách làm khôn ngoan để đạt mục đích SX MT giá rẻ cho cộng đồng là hỗ trợ bằng những đơn hàng của Nhà Nước cho những DN có được thiết kế máy tính thích hợp nhất với từng lĩnh vực ứng dụng của VN, đạt chất lượng TCVN với giá thành hạ nhất. Nhà Nước đừng bận tâm đến lắp ráp máy tính theo dây chuyền công nghiệp, hay lắp thủ công, lắp trong nước hay thuê nước ngoài gia công theo thiết kế của VN (ODM). Theo tư duy nội địa hóa mới, hãy để DN chủ động hội nhập bằng tham gia phân công SX máy tính trong khu vực để tiết kiệm đầu tư cho cả DN lẫn người dùng cuối.

    Singapore và nhiều nước khác trong khu vực đã có mô hình Hợp Tác Xã (HTX) SV để tự thiết kế và lắp ráp MT cho SV và gia đình rất có hiệu quả từ nhiều năm nay. Chúng ta đã học mô hình của Thái Lan về máy tính rẻ tiền cho cộng đồng, thì cũng nên theo cách làm này của Singapore cho phong trào '1 triệu tình nguyện viên CNTT xóa mù tin học cho 20 triệu thanh niên nông thôn'. Theo tôi biết, mấy năm trước, một công ty máy tính ở Hà Nội đã dự định hợp tác với Trường CĐ Điện Tử-Tin Học-Viễn Thông để thử nghiệm mô hình Câu Lạc Bộ CNTT SV hoạt động theo Luật HTX. Tuy nhiên, mô hình này đã không thành vì QĐ 19/2001 không hỗ trợ và Luật HTX cũ chưa phù hợp. Hiện nay, công ty đó vẫn tiếp tục ý tưởng CLB/HTX máy tính trong trường học và Đoàn thanh niên địa phương, và đang tìm những tổ chức và cá nhân tâm huyết với tư duy 'thanh niên, SV VN thiết kế và lắp ráp máy tính VN cho người VN' để hợp tác. Nếu quan tâm, hãy liên hệ qua email: vifcom@vol.vnn.vn.

    Một vài suy nghĩ với sự tiếc nuối cho cái đã qua. Sắp tới chắc sẽ lại có một quyết định quan trọng khác kiểu QĐ 19. Chỉ mong sao số phận của nó tốt đẹp hơn!

    Trần Thành 

    ID: B0406_14