• Thứ Ba, 29/06/2004 05:05 (GMT+7)

    Hành lang pháp lý cho giao kết hợp đồng điện tử

    Nhà máy B có một trang web giới thiệu sản phẩm. Qua đó, công ty A biết B có thể là đối tác cung cấp hàng hóa cho mình nên gửi một thư điện tử (e-mail) cho B đề nghị mua hàng. Đại diện B trả lời bằng một e-mail chấp nhận bán hàng. Hai thư điện tử trên đều sử dụng một phần mềm (PM) cho phép biết chính xác địa chỉ người gửi và đảm bảo nội dung thư không bị thay đổi. Đúng theo thỏa thuận, B giao hàng và nhận tiền qua một tài khoản ngân hàng. B không phải gặp mặt A trong suốt quá trình giao dịch. Giao kết hợp đồng giữa A và B diễn ra một cách tự nhiên vì cả hai đều có bằng chứng để tòa án bảo vệ mình nếu bên kia không thực hiện theo đúng thỏa thuận.

    Có lẽ trên đây là một giao dịch mơ ước của hầu hết doanh nghiệp (DN) vì nó giúp giảm thời gian, chi phí đi lại và thuận tiện. Mơ ước này đã thành hiện thực tại Mỹ, Hàn Quốc, Canada, Singapore từ vài năm gần đây do các nước này đã có đủ cơ sở pháp lý bên cạnh một hạ tầng kỹ thuật tiên tiến.

    Tại Việt Nam, giả sử hạ tầng kỹ thuật đã sẵn sàng, vậy cần các cơ sở pháp lý gì để biến ước mơ trên thành hiện thực?

    Năm 1996, Ủy Ban Liên Hợp Quốc về Pháp Luật Thương Mại Quốc Tế (UNCITRAL) đã ban hành luật mẫu về Thương Mại Điện Tử (TMĐT). Thực tế, nhiều nước đã xây dựng văn bản pháp luật quốc gia dựa trên luật mẫu này. Điểm quan trọng nhất của các văn bản luật đó là thừa nhận thông điệp dữ liệu điện tử có các thuộc tính tương đương văn bản giấy, được tin cậy và có giá trị pháp lý. UNCITRAL gọi cách quy định này là phương pháp điều chỉnh tương đương thuộc tính.

    Những thuộc tính cơ bản nhất của một văn bản giấy bao gồm:

    1. Khả năng có thể đọc được. 

    2. Không bị thay đổi nội dung theo thời gian.

    3. Cho phép tái tạo một tài liệu sao cho mỗi bên đều có bản sao của tài liệu ban đầu.

    4. Cho phép xác thực tài liệu bằng chữ ký.

    5. Được cơ quan nhà nước và tòa án chấp nhận.

    Chúng ta hãy thử xem thư điện tử của A và B trong ví dụ trên có đáp ứng được những thuộc tính như của văn bản giấy hay không?

    A và B đều đọc được nội dung thư điện tử của nhau, vậy thuộc tính thứ nhất được đáp ứng. 

    Để thực hiện giao dịch điện tử, cả A và B đều sử dụng PM cho phép tạo và giải mã các dữ liệu, qua đó nhận dạng người gửi và chứng minh người gửi đã chấp nhận nội dung thư. Trên thư điện tử, người gửi có thể "ký" vào thư và gửi cho người nhận. Hành vi "ký" điện tử không khác về bản chất so với hành vi ký tay vì đều giúp biết người ký là ai và chứng minh được anh ta đã chấp nhận nội dung thư mình ký. Có nghĩa, A không thể từ chối việc đã gửi thư với nội dung xác định cho B và ngược lại. Vậy là đáp ứng các thuộc tính thứ hai và thứ tư.

    A và B có nhiều cách để lưu giữ an toàn tất cả thư điện tử của toàn bộ quá trình giao dịch và xuất trình khi cần thiết, tức là thỏa mãn thuộc tính thứ ba.

    Cuối cùng,  khi  xảy ra bất kỳ tranh chấp nào, nếu A hoặc B được phép sử dụng các thư điện tử trên để yêu cầu cơ quan nhà nước hoặc tòa án bảo vệ quyền lợi của mình thì thuộc tính thứ năm được thỏa mãn (vấn đề thuần túy pháp lý).

    Như vậy, một thông điệp điện tử hoàn toàn có thể tương đương một văn bản giấy ở cả khía cạnh kỹ thuật và pháp lý. Vấn đề là cần phải thừa nhận những thuộc tính này trong hệ thống pháp luật quốc gia.

    Việt Nam hiện đang nỗ lực xây dựng các văn bản pháp lý thừa nhận các giao dịch điện tử. Quốc Hội mới cho thành lập Ban Soạn Thảo Luật Giao Dịch Điện Tử. Chính Phủ cũng đang nghiên cứu và dự thảo các định chế về TMĐT và chữ ký điện tử. Dự thảo Luật Thương Mại sửa đổi dự kiến cũng sẽ có những quy định thừa nhận giá trị pháp lý của các hợp đồng số hóa. Hy vọng trong thời gian tới môi trường pháp lý của Việt Nam sẽ sớm hoàn thiện để việc giao kết hợp đồng bằng thư điện tử không còn là ước mơ xa vời.

     Vũ Đình Thành, Vụ TMĐT, Bộ Thương Mại
    (www.mot.gov.vn)

    ID: B0406_36