• Thứ Tư, 04/08/2004 03:58 (GMT+7)

    Công nghiệp CNTT Việt Nam chỉ là công nghiệp phần mềm?

    Thuế: chuyện dài kể mãi...
    Theo các doanh nghiệp (DN), vấn đề khiến họ bức xúc nhất hiện nay vẫn là chuyện về thuế.
    Các câu chuyện về thuế đối với CNp phần cứng (PC) nếu kể ra hết thì quá dài dòng và sẽ làm cho nhiều người đọc không hiểu gì cả. Để dễ hiểu, chỉ xin trích 5 kiến nghị của 7 hiệp hội ngành nghề về lãnh vực này:

    1. Đối với mặt hàng CNTT mà phần cứng là thành phẩm nguyên chiếc và ĐTDĐ: thuế nhập khẩu là 5%, thuế VAT là 5%;

    2. Đối với mặt hàng CNTT mà phần cứng là linh kiện, phụ kiện lắp ráp: thuế nhập khẩu là 0%, thuế VAT là 5%;

    3. Đối với mặt hàng CNTT liên quan đến phần mềm: thuế nhập khẩu là 0%, thuế VAT là 0%;

    4. Thuế nhập khẩu và thuế VAT cần được tính theo bộ hồ sơ thương mại đầy đủ. Trong trường hợp phải sử dụng bảng giá tối thiểu thì giá tối thiểu được tính trên giá nhập trung bình của 5 nhà nhập khẩu lớn nhất trong 3 tháng gần nhất;

    5. Đại diện Bộ Tài Chính gặp đại diện của Hội đồng 7 hiệp hội nói trên định kỳ 3 tháng/lần để xem xét và sửa đổi các bất cập phát sinh từ thực tiễn nhập khẩu và kinh doanh của các DN điện tử – tin học – viễn thông.

    Ông Đặng Minh Sâm, phó Phòng Chính Sách, Tổng Cục Thuế đã nói trong cuộc hội thảo về vấn đề thuế đối với công nghiệp phần cứng: “Chúng tôi cũng đã trình lên trên, nhưng những kiến nghị về thuế của DN chưa đủ sức thuyết phục”.
    Chúng ta cần hiểu việc “chưa đủ sức thuyết phục” đó ra sao? Trong kiến nghị trên, điểm 3 liên quan đến phần mềm đã được giải quyết từ 2001. Còn những điểm 1, 2, 4 liên quan đến thiết bị CNTT thì khác xa so với các chính sách thuế hiện hành. (box 1)

    Vậy chỉ còn 2 cách hiểu:
    • Hoặc là Chỉ Thị 58 sai khi đặt vấn đề ưu đãi phát triển cho cả ngành CNTT, không phân biệt cứng hay mềm,
    • Hoặc là phải hiểu CNpCNTT VN chỉ có CNpPM. 
    Để những bạn đọc muốn hiểu sâu vấn đề hơn một chút, chúng tôi chỉ nêu sơ qua chuyện  quy định giá tối thiểu đối với linh kiện máy tính nhập khẩu liên quan điểm 4 trong 5 kiến nghị nêu trên. Chẳng hạn với mặt hàng RAM. Trong một thời gian dài kể từ Quyết Định số 177/2001/QĐ-TCHQ ngày 14/3/2001 của Tổng Cục Hải Quan, giá tối thiểu áp tính thuế cho các loại RAM không thay đổi và trở nên cao đến mức phi lý khi so với giá thực tế trên thị trường. “Chúng tôi nhập RAM 128MB giá 11-16 USD nhưng bị Hải Quan áp giá 35 USD; RAM 256MB nhập giá 23-24 USD bị áp giá 80 USD; RAM 512MB giá thực tế 55-58 USD nhưng bảng giá tối thiểu không có (vì đã quá cũ) và bị áp giá tối thiểu là 100 USD (theo tiêu chí đánh đồng vào loại lớn hơn 256MB... Những kiến nghị của doanh nghiệp về vấn đề này (chúng tôi có cung cấp kèm theo nhiều bảng giá của các thị trường trong và ngoài nước trong một thời gian dài cũng như toàn bộ hợp đồng kinh tế và chứng từ thanh toán qua ngân hàng) thường bị rơi vào quên lãng. DN liên tục phải nộp trong quá trình nhập khẩu thêm thuế VAT 10% của phần chênh lệch giữa giá thực mua và giá bị áp, tức là ít nhất 20 USDx10% = 2USD (khoảng 30.000 VNĐ) với một thanh RAM 128MB, với RAM 256MB thì khoản tiền này là 5-6 USD (xấp xỉ 100.000 VNĐ). Riêng RAM năm vừa rồi chúng tôi phải nộp bất hợp lý trên 100 triệu đồng tiền thuế”, giám đốc công ty CMS Nguyễn Phước Hải bức xúc.

    Bất bình đẳng ngay trong nội bộ ngành phần cứng!
    Cho đến nay, tất cả những gì ưu ái đều dành cho ngành “mềm” (thể hiện ở QĐ 128/2000/QĐ-TTg về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển CNpPM). DN đầu tư sản xuất, lắp ráp phần cứng chưa được hưởng bất kỳ ưu đãi gì về thuế, về đất đai, tín dụng, viễn thông, hỗ trợ thị trường, bảo hộ thương hiệu, v.v.... Thực ra thì ngành CNp máy tính cũng đã được xác định là sản phẩm CNp trọng điểm được hỗ trợ theo QĐ 19/2001/QĐ-TTg và Thông tư 04/2001/TT-BCN. Nhưng bất cập lại chính là đây: chỉ có các DN thuộc Tổng Công ty Điện Tử - Tin Học Việt Nam (VEIC) mới được hưởng ưu đãi, còn các DN sản xuất, lắp ráp máy tính thương hiệu Việt khác, dù có lượng sản phẩm bán ra lớn hơn nhiều so với VEIC, cũng không được nằm trong chính sách hỗ trợ này. Theo Thứ Trưởng thường trực Bộ BCVT Mai Liêm Trực, quan trọng nhất là một môi trường chính sách bình đẳng, công bằng để phát triển; công bằng, bình đẳng ngay cả trong các đối tượng được ưu tiên. “Nếu không thì không thể có máy tính thương hiệu Việt Nam”, ông Trực nói. Đã đến lúc chúng ta phải hiểu đúng và làm đúng theo tinh thần Chỉ Thị 58 của Bộ Chính Trị.

    Lộc Minh

    Bà Phan Hồng Phúc, Vụ Chính Sách, Bộ Tài Chính:
    Máy tính thương hiệu Việt Nam muốn được ưu đãi thì phải có trong ngành được Chính Phủ ưu đãi (?!). Việc thuyết phục Chính Phủ xếp vào danh mục ngành ưu tiên là tùy thuộc vào chính bản thân các doanh nghiệp sản xuất-lắp ráp máy tính (!!!).

    Ông Nguyễn Văn Cẩn, phó vụ trưởng Vụ Kiểm Tra Thu Thuế, Tổng Cục Hải Quan:

    Chúng tôi đồng tình với những kiến nghị của DN và các hội, hiệp hội về thuế suất thuế VAT, thuế nhập khẩu linh kiện máy tính và sẽ đề nghị sửa đổi;
    Về việc áp giá tối thiểu để tính thuế linh kiện: bảng giá tối thiểu cao, bất hợp lý thì sẽ sửa đổi, chúng tôi không bao giờ bảo thủ. Đề nghị Hội Tin Học Việt Nam cung cấp bảng chào giá chi tiết sản phẩm linh kiện của các công ty cho chúng tôi.

    Ông Nguyễn Kiên Cường, Tổng GĐ công ty Mekong Xanh:

    Mặc dù nhà nước đã có những động thái ủng hộ hàng nội địa, nhưng hầu như các cơ quan, nhất là các cơ quan lớn, sử dụng nhiều máy tính lại dửng dưng trước hàng nội. Việc mua và sử dụng hàng CNTT trong nước, trong đó có máy tính thương hiệu Việt Nam, bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cần phải trở thành chính sách bắt buộc. Điều đó không những tiết kiệm mà còn tạo ra thị trường cho các công ty CNTT trong nước phát triển.

    Ông Mai Liêm Trực, Thứ Trưởng thường trực Bộ BCVT:
    Tôi tin là công nghiệp máy tính Việt Nam thời gian tới sẽ phát triển tốt hơn nữa. Bộ BCVT sẽ sửa đổi Thông Tư 04 để tạo sự bình đẳng và ưu đãi cho DN.

    Ông Lê Trường Tùng, chủ tịch Hội Tin Học Tp. HCM:
    Để hỗ trợ DN lắp ráp máy tính thương hiệu Việt Nam, đề nghị Chính Phủ áp dụng chính sách ưu đãi như đối với các DN phần mềm: miễn thuế thu nhập DN trong 4 năm, với điều kiện đảm bảo được một số chỉ tiêu về thương hiệu (có đăng ký), quy mô (10.000 máy/năm) và chất lượng (tiêu chuẩn ISO).

    Ông Bùi Quang Độ, chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp Điện Tử Việt Nam:

    Chính Phủ cần có chính sách ưu đãi các DN phát triển công nghệ phần cứng cũng như Chính Phủ đã ưu đãi các DN phần mềm. Cần xây dựng và ban hành tiêu chuẩn Việt Nam cho các máy tính sản xuất trong nước. Những DN nào không đủ điều kiện lắp ráp máy tính thì không được tự lắp ráp cũng giống như chúng ta đã làm với các cơ sở lắp ráp xe máy để khuyến khích các DN đầu tư các dây chuyền lắp ráp và kiểm định hiện đại, hình thành nền móng của công nghiệp CNTT.

    Hòa Lạc có dành đất cho DN lắp ráp máy tính Việt Nam?
    Ông Chu Hảo, trưởng ban Khu Công Nghệ Cao Hòa Lạc: “Không phải DN lắp ráp máy tính nào cũng được đầu tư tại KCNC. Để được đầu tư tại đây, DN phải tuân theo một số tiêu chuẩn nhất định như về quy mô, năng suất, trình độ công nghệ. Bộ KHCN sẽ công bố danh mục lĩnh vực ưu tiên đầu tư vào KCNC, trước mắt bao gồm các lĩnh vực: CNTT, truyền thông, CNgPM, công nghệ sinh học, công nghệ điện tử, vi điện tử, cơ khí chính xác, quang điện tử, công nghệ vật liệu mới. Trên cơ sở đó, Ban quản lý KCNC sẽ công bố danh mục các dự án kêu gọi đầu tư. Dự kiến những văn bản này sẽ được ban hành vào tháng 6/2003. Xin nhấn mạnh là mức ưu đãi dành cho DN đầu tư tại KCNC là cao nhất theo luật hiện hành.”

    (K.L ghi)
    Danh sách các DN lắp ráp máy tính có thương hiệu hiện nay
    1.  Công ty CMS (máy tính CMS)
    2.  Công ty Đăng Anh (máy tính DAC)
    3.  Công ty Điện Tử Vietronic Tân Bình –VTB (máy tính MTVi)
    4.  Công ty Điện Tử Hanel (máy tính Hanel)
    5.  Công ty ELINCO-Bộ Quốc Phòng (máy tính MILCOM)
    6.  Công ty FPT (máy tính Elead)
    7.  Công ty Genpacific (máy tính GPC)
    8.  Công ty Hồng Cơ (máy tính SPEED)
    9.  Công ty ISA (máy tính ISA)
    10.    Công ty Khai Trí (máy tính Wiscom)
    11.    Công ty Lam Phương (máy tính LPC)
    12.    Công ty Máy Tính Việt Nam 1 (máy tính Vifcom)
    13.    Công ty Mekong Green (máy tính Mekong Green)
    14.    Công ty RoBo (máy tính Robo)
    15.    Công ty Sing PC (máy tính Sing PC)
    16.    Công ty T&H (máy tính T&H)
    17.    Công ty Thái Sơn (máy tính TSC)
    18.    Công ty Thuận Quốc (máy tính Ruby)
    19.    Trung Tâm Vi Tính Đồng Nai (máy tính Vinacom)
    20.    Công ty Vĩnh Trinh (máy tính Super Power)
    21.    Công ty Vĩnh Xuân (máy tính SPC)

    (Nguồn: VAIP)

    ID: B0305_14