• Thứ Tư, 04/08/2004 04:04 (GMT+7)

    CNpPM tại Việt Nam: Có nên xét lại quyết tâm phát triển?

    Đúng 36 tháng tuổi Nghị Quyết 07 về phát triển CNPPM ở nước ta. Những gì đạt được còn cách quá xa mục tiêu. Vậy có cần xét lại quyết tâm phát triển CNPPM ở nước ta?
    Cũng trong thời gian ấy, công nghiệp phần cứng vật lộn đi lên.
    Chỉ có hiểu đúng và làm đúng Chỉ Thị 58 của Bộ Chính Trị chúng ta mới có thể có CNPCNTT VN. Tuy nhiên, liệu chúng ta có làm nổi không? Diễn đàn này chưa thể trả lời câu hỏi đó mà chỉ giới hạn bàn cách để 'hiểu đúng', còn vấn đề 'làm đúng' xin hẹn dịp khác.

    CNPM tại Việt Nam: Có nên xét lại quyết tâm phát triển?
    Tháng 5 năm này là vừa tròn 36 tháng ra đời Nghị Quyết 07 của Thủ Tướng Chính Phủ về phát triển CNPPM, trong đó đã khẳng định quyết tâm phát triển CNPPM ở nước ta.

    Chủ trương này sai hay đúng?
    Báo Bưu Điện số 15 (532) của tuần 07/4 – 13/4/2003 đã đăng ý kiến của một số nhà nghiên cứu Nhật Bản phát biểu trong hội thảo Một số vấn đề cơ bản nhằm phát triển CNPPM ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập do Đại Học Kinh Tế  Quốc Dân Hà Nội và tổ chức JICA (Nhật Bản) tổ chức. Theo báo Bưu Điện thì chẳng hạn ông GS.TS Kenichi Ohno nói: “Ngành CNPPM không nên là một ngành được ưu tiên ở VN...”, ông GS.TS. Fukunarri Kimura thì nói: “Dường như Chính Phủ Việt Nam nhấn mạnh quá nhiều về vấn đề phát triển CNPPM”,  hoặc cũng theo báo Bưu Điện thì “các chuyên gia JICA khuyến cáo rằng, Việt Nam không nên bắt chước Ấn Độ, Đài Loan vì điều kiện và điểm xuất phát của Việt Nam rất thấp...”, v.v...
    Chúng ta không bảo thủ, giáo điều, vì vậy trước các ý kiến ít nhiều ngược lại với chủ trương lớn của Đảng và Nhà  Nước về phát triển CNPPM, cần phải phân tích kỹ lưỡng xem chúng ta có nhầm lẫn hay không. Rất có thể chúng ta chưa nhìn thấu đáo, cũng có thể thực tiễn đã thay đổi và phải xem xét lại những quyết sách trước đây và cũng rất có thể bạn chưa hiểu hết chúng ta.
    Theo yêu cầu của Ban Bí Thư, hiện cả nước đang thực hiện việc kiểm điểm 2 năm thực hiện Chỉ Thị 58 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhân dịp này, chúng ta sẽ có những đánh giá lại toàn diện vấn đề phát triển CNTT ở nước ta cả về ứng dụng, cả về CNp CNTT. Nhìn một cách khái quát thì những gì làm được còn cách khá xa so với yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước cũng như yêu cầu nêu ra trong Chỉ Thị 58. Vì sao lại như vậy? Do định hướng sai hay do tổ chức thực hiện chưa tốt?

    Chỉ Thị 58 đã đánh giá “CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển” và khẳng định vai trò của CNTT ở nước ta như sau: “Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoa”. Từ những luận điểm cơ bản đó, Bộ Chính Trị chủ trương: “Û́ng dụng và phát triển CNTT (bao hàm phát triển CNPPM, CNp phần cứng , hạ tầng viễn thông  - Internet và phát triển nguồn nhân lực CNTT – ghi chú của CL) là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi truớc .”
    Riêng về CNPCNTT thì Bộ Chính Trị xác định nhiệm vụ: “Phát triển CNPCNTT thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là CNPPM”.
    Để tạo điều kiện cho CNPCNTT phát triển, Bộ Chính Trị chủ trương: “Khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ CNTT được tạo ra trong nước (chứ không phải chỉ của các công ty Việt Nam, và cũng không chỉ các dịch vụ, sản phầm phần mềm - CL). Các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước phải sử dụng các sản phẩm và dịch vụ CNTT trong nước đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với điều kiện Việt Nam....Các sản phẩm và dịch vụ CNTT được tạo ra trong nước không chịu thuế giá trị gia tăng. Các doanh nghiệp trong lãnh vực CNTT (không chỉ các doanh nghiệp phần mềm - CL) được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập, được hưởng chế độ ưu đãi về tín dụng, về sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Xây dựng chương trình hỗ trợ xuất khẩu trong lĩnh vực CNTT, trước mắt là gia công phần mềm và xuất khẩu lao động”.

    Những chủ trương chung về CNTT nêu trên và chủ trương “phát triển CNPCNTT thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là CNPPM” theo chúng tôi là chính xác và cho đến nay vẫn đúng.
    Chúng ta hãy chỉ giới hạn bàn về ý liên quan đến phát triển CNPPM là ý mà bạn đưa ra một số khuyến cáo ít nhiều khác ta. 
    - Việt Nam có cần và có thể xây dựng ngành CNPPM không?
    - Nếu có thì định hướng chiến lược như thế nào?
    - Mục tiêu cần và có thể đạt tới là gì?
    - Làm thế nào để đạt mục tiêu đề ra?
    - v.v....
    Năm 1995 – 1996 tại TP. HCM, Hội Tin Học TP đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo tìm trả lời cho câu hỏi cơ bản “Việt Nam có cần và có thể xây dựng ngành CNPPM không?” Chúng ta muốn nói đến một ngành công nghiệp thực thụ, với các chỉ tiêu tối thiểu, chẳng hạn về giá trị đóng góp trong thu nhập quốc dân (ít nhất cũng phải cỡ vài phần trăm).

    Vào những năm 95 – 96, tại TP.HCM mới chỉ có trên 10 công ty làm phần mềm với vài trăm chuyên viên chuyên nghiệp. Trong các cuộc thảo luận ấy, ngay trong số những người làm phần mềm chuyên nghiệp cũng có ý kiến cho rằng Việt Nam không thể xây dựng được ngành CNPPM. Sau nhiều cuộc thảo luận, giới tin học TP.HCM đi đến một số kết luận sau:
    • Việt Nam rất cần có ngành dịch vụ phần mềm (một bộ phận của CNPPM). Không mạnh trong lãnh vực này thì không thể phát triển ứng dụng CNTT, mà ứng dụng CNTT là chìa khoá của hội nhập.
    • Việt Nam có thể và cũng rất cần xây dựng một ngành CNPPM theo gương (chứ không phải làm y hệt) Ấn Độ, Philippines. Những năm đó chúng ta mới chỉ biết về những thành công đã khá ấn tượng của Ấn Độ và những bước khởi đầu của Philippines.
    • Giới tin học TP. Hồ Chí Minh cũng thống nhất đề nghị chính quyền thành phố có những chính sách hỗ trợ để phát triển hàng loạt các doanh nghiệp phần mềm nhỏ, chủ yếu là tư nhân và đi lên từ đó.

    Từ đó mới có Sài Gòn Software Park, Công Viên Phần Mềm Quang Trung, những mô hình mà hôm nay đã được khẳng định.
    Cùng với TP. Hồ Chí Minh, các nhà quản lý các cấp của Đảng và Nhà Nước, các lực lượng CNTT ở cả nước ta đã cùng nhau phân tích và khẳng định nhiệm vụ “phát triển CNPCNTT thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là CNPPM” như một mục tiêu chiến lược để phát triển đất nước. Xác định điều này, không ai trong chúng ta nghi ngờ ở năng lực của thế hệ trẻ Việt Nam, nhưng cũng không ai cho rằng công việc đó là dễ dàng. Tình hình chính trị quốc tế nói chung và diễn biến của CNTT nói riêng trên thế giới trong những năm gần đây càng làm cho nhiệm vụ này trở nên khó khăn gấp bội. Cũng có người hỏi rằng vì sao ta biết là cực kỳ khó khăn mà cứ phải xông vào, có nhất thiết không? Đúng là vô cùng khó khăn. Chúng ta có thể mua toàn bộ công nghệ, thậm chí thuê chuyên gia nước ngoài để có công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô. Nhưng không thể mua toàn bộ công nghệ ở bất cứ đâu, không thể thuê chuyên gia nước ngoài  để có CNPPM. Các chuyên gia Việt Nam phải học lấy cách làm ra ngành CNPPM và tự làm ra nó cho mình. Không làm được điều này thì không có cách nào phát huy được sức mạnh nguồn nhân lực trí tuệ tiềm tàng của chúng ta.

    Tuy vậy, những năm qua, với Chỉ Thị 58, với Nghị Quyết 07 chúng ta vẫn chưa làm được gì nhiều để phát triển CNPPM. Nguồn nhân lực trí tuệ vẫn còn ở dạng tiềm năng. Có rất nhiều lý do. Trong bài viết “CNPPM Việt Nam, câu chuyện đòn bẩy và người điều khiển” trên số tháng 02/2002 của PC World B, tác giả đã nêu một nguyên nhân cơ bản như sau: Ta đã có điểm tựa (NQ 07) nhưng chưa có đòn bẩy và người điều khiển đòn bẩy.
    Vào tháng 6/2000, tức 36 tháng trước đây, Nghị Quyết 07 đã ghi: “Phấn đấu đến năm 2005 đạt giá trị sản lượng [CNPPM] khoảng 500 triệu USD”.
    Ba năm trôi qua, chúng ta không có một tổ chức đủ tài, đủ tâm, đủ quyền phấn đấu hết mình cho con số không lớn này. Và như vậy nó dần trở thành xa vời, trở thành đối tượng bình phẩm, đàm tiếu của một số người.

    Chi Lan

    ID: B0305_12