• Thứ Tư, 04/08/2004 03:56 (GMT+7)

    Khu phần mềm tập trung: Chọn mô hình nào?

    Những tưởng rằng Công Viên Phần Mềm Quang Trung (QTSC), Khu phần mềm tập trung 123 Trương Định (SSP) tại TP. HCM đã là minh chứng cho một hướng đúng cho phát triển CNpPM. Nhưng vẫn còn nhiều sự nghi ngờ, nhầm lẫn.


    Trung tâm phần mềm SaiGon Software Part

    Tại sao cần các khu phần mềm tập trung?

    Trong bài phỏng vấn đăng trên PC World B số tháng 4/2002, trả lời câu hỏi: “Gần đây, nhiều ý kiến cho rằng việc lập ra các khu phần mềm tập trung (KPMTT)  là không cần thiết, không hiệu quả và thậm chí là... lỗi thời khi đã xuất hiện khả năng  kết nối dễ dàng các doanh nghiệp với nhau qua Internet. Ông nghĩ gì về ý kiến này?”, Phó Chủ Tịch Thường Trực  UBND TP. HCM Nguyễn Thiện Nhân đã nêu ra những lợi ích mà một KPMTT như QTSC có thể mang lại cho cộng đồng doanh nghiệp PM.

    Câu hỏi trên phản ánh suy nghĩ nghi ngờ, thậm chí phản đối sự đầu tư xây nên QTSC ngay từ khi bắt đầu. Những tưởng chỉ vào tháng 4/2002 mới còn câu hỏi đó. Nhưng hoá ra đến tận hôm nay, ý kiến nghi ngờ, thậm chí phủ nhận như trên vẫn còn tồn tại. Có thể có những công ty PM không hề thấy cần vào các KPMTT, chỉ cần vài phòng làm việc trong một con hẻm nào đó là đủ tồn tại.

    Vào năm 1997, Đài Loan đang chuẩn bị khánh thành công viên PM (CVPM) đầu tiên thì khi làm việc với một công ty PM chuyên về làm các CD sản phẩm văn hóa, họ nói rằng: “CVPM? Chỉ là trò đùa! Chẳng bao giờ chúng tôi cần đến CVPM!”. Nhưng chính quyền Đài Bắc thì không cho việc hỗ trợ tạo lập CVPM là trò đùa. Họ quyết tâm đưa sản lượng CNpPM của họ từ 1 tỷ USD năm 1997 lên 3 tỷ USD vào năm 2000.

     

    Chung quy những ý kiến không đồng tình với các KPMTT vẫn không có gì mới so với lý do nêu trong câu hỏi trên. Những ý kiến đó dựa vào sự xâm nhập rộng rãi của viễn thông – Internet và xu hướng sản xuất phân tán đang diễn ra trên thế giới. Đúng là viễn thông – Internet đang tạo ra một xu thế phân tán trong tổ chức sản xuất không chỉ trong CNpPM mà trong rất nhiều ngành sản xuất khác. Nhưng theo chúng tôi, ý kiến sau đây của ông Nguyễn Thiện Nhân phản ánh một thực tế rõ ràng trên thế giới: “Dù có sự ra đời của Internet hơn 10 năm qua, các khu công nghệ cao, khu công nghiệp kỹ thuật cao, các công viên khoa học ở các nước trên thế giới đều không mất đi, không suy tàn mà vẫn tiếp tục phát triển”.

    Người ta dựng nên những CVPM, khu công nghệ cao, công viên khoa học và công nghệ đâu phải chỉ vì đường truyền Internet chưa tốt, ngược lại, đâu phải chỉ vì Internet tốt là không cần đến các CVPM.

    Chúng tôi xin tóm lược và đúc kết 5 nguyên nhân chính về sự cần thiết tạo lập các KPMTT ở nước ta:

     

    1. Chia sẻ cơ sở hạ tầng: KPMTT có hạ tầng kỹ thuật cao (thông tin, viễn thông, Internet thuận tiện, chất lượng cao), có môi trường cảnh quan tốt (thư viện, công viên, khu vui chơi giải trí, ...), và có tiện nghi sinh hoạt (sân bóng, bể bơi, nhà hàng, khách sạn, ...) mà nếu đứng riêng lẻ, các doanh nghiệp PM Việt Nam khó lòng trang bị được. Ngoài ra, các doanh nghiệp trong KPMTT cũng có thể dùng chung dịch vụ tư vấn, quảng cáo, tiếp thị, khảo sát thị trường...

     

    2. Tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ: Trong một môi trường mật độ chất xám đậm đặc, sự va chạm giữa những ý tưởng phát sinh nơi sân bóng, quán cà phê, ghế đá công viên rất dễ được cộng hưởng, thăng hoa và kết tinh thành những sản phẩm giá trị. Lợi điểm này là vô giá, là cái không sờ mó được nhưng là nguyên nhân quan trọng của sự hình thành các CV khoa học công nghệ trên thế giới. Cổ nhân nói “buôn có bạn, bán có phường”. Làm PM lại càng cần như vậy. Tinh thần này còn thể hiện ở lý do thứ 3 và 4 dưới đây.

     

    3. Tạo sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Khi mà các doanh nghiệp chỉ cách nhau một bức tường, chẳng ai có thể bình chân như vại trước sự “nhộn nhịp, đông vui” bên nhà hàng xóm.

     

    4. Làm tăng tiếng nói nhờ sức mạnh tập thể: Khi mà qui mô của các doanh nghiệp PM Việt Nam còn khá khiêm tốn, việc tập trung nhau lại giúp họ có được hình hài to lớn hơn, bàn tay họ sẽ trở nên vững chãi hơn khi chìa ra với thế giới. Một nhà đầu tư quốc tế không thể lọ mọ trên các con hẻm để tìm đối tác PM ở VN.

     

    5. Những chính sách ưu đãi của Nhà Nước không phải lúc nào cũng có thể rót đều cho mọi công ty PM dù họ ở đâu. Một minh chứng là ưu đãi giá Internet cho QTSC của UBND TP. HCM. Cũng có luận điểm cho rằng “những chính sách của Nhà Nước cần hướng đến môi trường thuận tiện cho các doanh nghiệp hơn là tạo thuận lợi cho các khu CNpPM” (Báo Bưu Điện số 15 (532) 07/04–13/04/2003). Những chính sách lớn của Nhà Nước hiện nay đang tạo những thuận lợi tối đa cho phát triển CNpCNTT nói chung và cho CNpPM nói riêng. Mặt khác mọi quốc gia trên thế giới khi kiến tạo những KPMTT đều có các chính sách ưu đãi đặc biệt cho các khu này.

     

    Cần nhưng không thể tràn lan

    Hiện nay có một thực trạng là nhiều địa phương mong muốn thành lập  KPMTT. Điều này, nếu không được cân nhắc kỹ lưỡng về tiềm lực của địa phương và chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, rất dễ dẫn đến những mô hình kém hiệu quả, lãng phí tiền đầu tư. Trong bảng là kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu thuộc Dự Án NEU-JICA về  tình trạng của 8 KPMTT đang hoạt động tại Việt Nam (thời điểm công bố số liệu là tháng 3/2003).


    Công viên phần mềm Quang Trung

    Chúng tôi đã hỏi ông Nguyễn Trọng, Chánh Văn Phòng Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT: ông suy nghĩ gì về những sản phẩm sinh ra từ ý tưởng của mình? (ông Trọng  là người đã trình bày với lãnh đạo Thành Ủy TP. HCM vào năm 1996 về dự án KPMTT 123 Trương Định TP.HCM, và vào cuối năm 1999 về dự án CVPM Quang Trung). Ông Trọng nói rằng: “Trước hết tôi ủng hộ việc phát triển các KPMTT và căn bản thống nhất với những phân tích của tác giả về ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, cần phân biệt 3 loại hình KPMTT hiện nay:

    Một là các khu PM như các mặt trận chiến lược của cả nước. Hiện nay đó là CVPM Quang Trung và rất cần đẩy nhanh một khu tương tự ở khu vực Hà Nội. Có thể đó là một phần của KCNC Hoà Lạc nhưng cũng có thể là một chỗ khác (tương tự tình hình TP.HCM). Trong tình hình hiện nay, chúng ta không thể mở thêm các mặt trận chiến lược khác. Nhà Nước cần đặc biệt quan tâm chỉ huy mặt trận chiến lược đã mở ra, khẩn trương và quyết tâm mở mặt trận thứ 2 ở khu vực Hà Nội.  

     

    Hai là các khu PM quy mô như 123 Trương Định TP.HCM mà ta có thể gọi là các cao ốc phần mềm (Software Building). Ở các nước khác thì trong mỗi thành phố có khá nhiều các toà nhà như vậy với quy mô khác nhau. Các thành phố của ta khi đã có chừng dăm chục công ty PM thì có thể tổ chức các toà nhà như vậy. Tuy nhiên các khu này chưa thể là mặt trận chiến lược của quốc gia.

    Ba là các toà nhà CNTT, trong đó có thể là vài trung tâm đào tạo, một số cửa hàng dịch vụ về CNTT cả cứng cả mềm, một số công ty CNTT, một số Internet Cafe. Những tòa nhà như vậy có giá trị hỗ trợ phát triển CNTT và còn có cả giá trị văn hoá. Đây là mô hình tốt cho tất cả các địa phương và cũng cần sự hỗ trợ của chính quyền địa phương.

    Đừng đánh đồng 3 mô hình trên trong chiến lược quốc gia và đừng gọi chúng bằng một cái tên chung là Software Park, để rồi nhầm lẫn hết cả! Và có thể làm hỏng việc lớn”.

     

     Anh Thư

    ID: B0305_34