• Thứ Bảy, 27/11/2004 17:10 (GMT+7)

    Bức tranh tương phản CNTT - Viễn Thông Việt Nam

    Trong vài năm trở lại đây, Việt Nam là một thị trường CNTT và viễn thông luôn đứng vào top đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng, thế nhưng tính hiệu quả lại có nhiều điều phải phàn nàn hơn là khen ngợi. Tại sao vậy?


    Trong vài năm trở lại đây, Việt Nam là một thị trường CNTT và viễn thông luôn đứng vào top đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng, thế nhưng tính hiệu quả lại có nhiều điều phải phàn nàn hơn là khen ngợi. Tại sao vậy?

    Màu sáng: Thị trường Việt Nam tăng tốc

    Hãy bắt đầu với thị trường thế giới, 3 năm trở lại đây ngành CNTT và viễn thông (ICT) thế giới đang trên đà hồi phục mạnh mẽ. Năm 2002 chỉ hồi phục với 0,9%, sang 2003, thị trường ICT thế giới bắt đầu phát triển 3,1%, đạt gần 2700 tỷ USD và 2004 rất khả quan với mức tăng trưởng dự báo là 5,3%. Nếu chỉ xét riêng thị trường CNTT, thì cả hai năm 2002, 2003 vẫn tăng trưởng âm với tốc độ lần lượt là -3,6 và -0,2%.

    Nếu như tình hình CNTT- Viễn thông thế giới tích cực một thì Việt Nam tích cực 5 - 6 lần. Xét mức độ tăng trưởng ICT, Việt Nam chỉ đứng thứ 2 sau Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 29% trong năm 2003, tổng giá trị 515 triệu USD. Thời gian tới, tốc độ tăng trưởng sẽ có thể tiệm cận mức 30%, thuộc vào hàng đầu của thế giới.

    Nếu tính cả doanh số dịch vụ bưu chính viễn thông 1,45 tỷ USD thì tổng giá trị thị trường ICT đã đạt gần 2 tỷ USD/năm. Nên nhớ là tốc độ tăng trưởng thị trường 2 năm trước lần lượt chỉ là 13 và 17,6%. Việt Nam cũng xuất khẩu được 700 triệu USD phần cứng. Nhập khẩu phần cứng đạt mức kỷ lục 448 triệu USD, tăng 62% so với năm trước.

     

    Hội thảo/ Triển lãm Hệt Thống Lưu Trữ, An Ninh Bảo Mật và Mạng, ngày 28-29/9/2004 tại Hà Nội

    Năm 2003 được xem là năm thành công của ngành công nghiệp PM Việt Nam với giá trị là 120 triệu USD, tỷ lệ tăng trưởng 41 %. Trong đó, phân khúc nội địa tăng 38%, gia công xuất khẩu tăng 50%. Tổng giá trị công nghiệp phần mềm là 120 triệu USD, trong đó xuất khẩu đạt 30 triệu USD. Cũng cần biết rằng, giá trị phần mềm nhập khẩu năm qua chỉ từ 7 đến 10 triệu USD. TS Nguyễn Hữu Lệ - Chủ tịch HĐQT TMA cho biết: "Đến thời điểm năm 2004 thì thực sự nhu cầu gia công phần mềm cao hơn những năm trước".

    Có thể thấy, khi nhắc đến những con số liên quan đến tăng trưởng chi tiêu CNTT, tăng trưởng thị trường, thì chúng ta vẫn có thể lạc quan về ngành công nghiệp ICT nước nhà. Tuy nhiên, khi đề cập cụ thể đến giá trị tuyệt đối của ngành kinh tế này, như đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, hiệu quả ứng dụng ICT vào cuộc sống và sự vận hành của nền kinh tế... có lẽ, chúng ta cần suy nghĩ lại.

    Màu xám: Từ các chỉ số kết quả ứng dụng và phát triển CNTT

    Có nhiều cách để đánh giá tính hiệu quả trong ứng dụng ICT, tổ chức nghiên cứu và đánh giá về thị trường CNTT-Viễn thông gồm có: Gartner, IDG, World Bank, Liên Minh Viễn Thông Thế Giới ITU...

    Năm 2003 là năm đầu tiên Việt Nam được xếp hạng chỉ số xã hội thông tin ISI cùng 52 quốc gia khác và đứng cuối danh sách. Hai năm trước đó, trong danh sách 55 quốc gia được đánh giá tiêu chuẩn ISI chưa có mặt Việt Nam. Ngay cả 2 cường quốc về CNTT là Trung Quốc và Ấn Độ cũng chỉ đứng sát trên Việt Nam trong top 10 quốc gia xếp cuối. Chỉ số xã hội thông tin ISI được đánh giá thông qua 23 tiêu chí liên quan tới 4 nhóm: hạ tầng máy tính, hạ tầng Internet, hạ tầng thông tin và hạ tầng xã hội.

    Chỉ số truy cập số IDA lần đầu tiên được công bố năm 1998 với 40 quốc gia được xếp hạng, sang năm 2003 có số lượng tăng vọt là 178 quốc gia. Đáng chú ý, Việt Nam với chỉ số 0,31 đứng thứ 122/178 quốc gia được xếp hạng và đứng áp chót ở hạng trung gồm 58 quốc gia. Chỉ số sẵn sàng kết nối NRI đánh giá "mức độ chuẩn bị của một quốc gia để tham gia và hưởng lợi từ các phát triển của CNTT". Với số điểm 3,13, Việt Nam đứng thứ 68/102 quốc gia được xếp hạng, cải thiện khá tốt về vị trí và điểm số so với 2 năm trước.

    Ông Lai Yit Long - Giám đốc Intel Đông Nam Á nhận định: "Mức tăng trưởng của Việt Nam được đánh giá tốt. Từ năm 2001-2003 Việt Nam đã leo lên 9 bậc trong bảng đánh giá. Điều đó chứng tỏ Chính Phủ các bạn đã có nỗ lực triển khai đầu tư mạnh mẽ cho chính phủ điện tử, kết nối Chính Phủ, Trung Ương và chính quyền địa phương, tự động hóa hoạt động. Tôi tin vài ba năm tới, Việt Nam sẽ có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng của Liên Hiệp Quốc, đuổi kịp Malaysia và Thái Lan".

    Với chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử E-readiness do tạp chí The Economist của Anh công bố tháng 4/2004, Việt Nam đứng thứ 60/64 quốc gia được đánh giá. TS Lê Trường Tùng - Chủ tịch Hội Tin Học Tp.HCM khẳng định: "Vị thế của chúng ta trong những bảng xếp hạng quốc tế chưa cao vì sự phát triển của thị trường ứng dụng CNTT bị ảnh hưởng bởi quy mô của nền kinh tế. Chỉ số GDP của chúng ta so với các nước khác là tương đối thấp. Do vậy, thành tích đạt được là đáng phấn khởi".

    Trên thực tế, những nỗ lực xây dựng chính phủ điện tử ở nước ta thời gian qua cũng chỉ giúp Việt Nam đứng trên các nước Myanmar, Lào và Campuchia trong khu vực. Thậm chí thứ hạng 97/173 quốc gia của Việt Nam năm 2003 còn thụt lùi so với vị thế 90 của chính mình năm 2001. Điều này có thể hiểu khi có nhiều nước được xếp hạng, nhưng cũng có thể hiểu là các quốc gia khác đang có những tiến bộ vượt bậc trong khi chúng ta tiến rất chậm trong lĩnh vực xây dựng chính phủ điện tử.

    Chúng ta lâu nay vẫn tự hào về những bước tiến trong lĩnh vực viễn thông - Internet, nhưng trong thực tế với bảng xếp hạng của liên minh viễn thông thế giới ITU, thì vị trí của Việt Nam vẫn thuộc nhóm gần cuối bảng xếp hạng. Riêng Internet đã có sự cải thiện đáng kể về thứ bậc từ 126 lên 82 chỉ sau một năm. Sự phát triển này có được nhờ trong vòng 12 tháng, số lượng người dùng Internet ở nước ta tăng đột biến gấp 3 lần.

    Trong các chỉ số của Việt Nam liên quan đến CNTT-Viễn thông, có một chỉ số lần đầu tiên chúng ta được xếp hạng và đương nhiên có thể xem là một tin vui. Tháng 4/2004, tập đoàn tư vấn quốc tế Kearney xếp Việt Nam vào danh sách 25 quốc gia thu hút gia công dịch vụ tốt nhất. Việc đánh giá dựa trên 3 tiêu chí: tài chính, môi trường kinh doanh và nhân lực. Tuy nhiên, cần lưu ý, trong top 25 quốc gia gia công phần mềm tốt nhất thế giới chúng ta vẫn đứng ở tốp cuối với vị trí 20, vì vậy Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ với các nước có vị thế cao: Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Philippines...

    TS Lê Trường Tùng cho rằng: " Việc Việt Nam lọt vào danh sách đó là rất quan trọng, bởi không phải quốc gia nào cũng có tên trong danh sách".

    Nhìn chung, vị trí của Việt Nam trong các bảng xếp hạng tạo ra một tông màu cơ bản: đó là màu xám, vì thường đứng ở tốp cuối, nhưng ít ra chúng ta vẫn có thể tự an ủi là còn hơn khối nước chưa được xếp hạng. Trong khi đó, có một bảng xếp hạng duy nhất chúng ta đứng đầu, song không mang lại một cảm giác tự hào gì! Đó là vị trí số 1 trong bảng xếp hạng các quốc gia có tỷ lệ vi phạm bản quyền cao nhất thế giới. Việc chuẩn bị gia nhập WTO, AFTA sẽ tạo một áp lực rất lớn cho chúng ta về vấn đề sở hữu trí tuệ, trong đó có bản quyền phần mềm. Và chúng ta sẽ phải cải thiện tình hình, tụt dần vị trí trong bảng xếp hạng các quốc gia vi phạm bản quyền!

    Lời kết

    Có thể các chỉ số ICT chưa phản ánh hết những kết quả trong ứng dụng CNTT-Viễn thông của nước ta, nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta có thể hài lòng với các kết quả trong bảng xếp hạng. Vấn đề là làm sao cải tiến được vị trí của mình mà không phải lo cứ mỗi khi có thêm quốc gia mới đưa vào danh sách, Việt Nam lại tụt thứ hạng. Muốn làm được như vậy, ngành công nghiệp CNTT-Viễn thông phải thực sự tăng tốc, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Quan trọng hơn nữa là việc ứng dụng phải lấy tính hiệu quả làm đầu, để cuộc sống của mỗi người dân được hưởng lợi từ các ứng dụng này.

    Thành Lưu
     

    ID: B0411_12