• Thứ Năm, 09/12/2004 15:16 (GMT+7)

    Thị trường viễn thông Việt Nam: Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển

    Kết quả khảo sát 150 DN do Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương công bố đầu tháng 11/2004 cho thấy một bức tranh khá sáng sủa về tốc độ phát triển của ngành viễn thông Việt Nam trong những năm qua, nhưng về năng lực cạnh tranh lại bộc lộ nhiều hạn chế.


    Kết quả khảo sát 150 doanh nghiệp (DN) do Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương vừa công bố đầu tháng 11 vừa rồi cho thấy một bức tranh khá sáng sủa về tốc độ phát triển của ngành viễn thông (VT) Việt Nam trong những năm qua, nhưng về năng lực cạnh tranh lại bộc lộ nhiều hạn chế.

    "Cạnh" đã có nhưng "Tranh" còn yếu

    Ngành VT ở VN đã và đang phát triển khá mạnh trong thập kỷ qua cùng với những thay đổi đáng kể. Hầu hết các dịch vụ điện thoại, bao gồm cả những dịch vụ mới như GPRS, VPN, Wi-Fi Internet v.v... đều đã được cung cấp. Giá cước VT cũng đã giảm đáng kể trong 4 năm qua, đặc biệt là các dịch vụ có liên quan tới Internet.

    Suốt một thời gian dài duy trì chế độ độc quyền nhà nước, hiện nay, khu vực VT ở VN tuy vẫn bị thống lĩnh bởi các DN nhà nước nhưng việc mở cửa và tự do hóa đã dần được thúc đẩy trong vài năm trở lại đây, đặc biệt sau khi ban hành pháp lệnh về BCVT. Tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông (VNPT) không còn là nhà cung cấp các cổng quốc tế duy nhất, mà đã có hai công ty khác có thể làm việc đó. Cho đến nay, trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ, có ít nhất ba công ty đã được cấp phép. Sự tham gia của thành phần tư nhân trong thị trường VT đã được cho phép, nhất là các thị trường dịch vụ giá trị gia tăng, dẫu vẫn còn ở mức hạn chế. Vì vậy, có thể nói rằng, về hình thức, VN đã có cơ cấu cạnh tranh. Tuy nhiên, các chuyên gia khẳng định rằng, VN vẫn phải trải qua một chặng đường dài để có thể thực sự tạo ra cơ cấu cạnh tranh hiệu quả cho khu vực VT.

    Trong khi đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực điện thoại cố định được khuyến khích ở Singapore với hình thức đầu tư không hạn chế và tỷ lệ vốn nước ngoài được phép đầu tư là 100%, tại Thái Lan là 20%, tại Philippines là 40%, hay như Lào cho phép liên doanh và 100% vốn nước ngoài... thì tại VN là không được phép và chỉ chấp nhận hình thức hợp tác kinh doanh. Cũng như vậy với thị trường VT di động, VNPT hiện đang chiếm tới 97% thị phần và "mẩu bánh" bé xíu còn lại được chia sẻ cho 3-4 DN VT khác.

    Kết quả khảo sát trên những DN vừa và nhỏ sử dụng dịch vụ VT cho thấy, khối ngân hàng và ngành CNTT có tỷ trọng chi phí VT nhiều nhất là trên 10%, các ngành khác chỉ chiếm khoảng 5%. Hầu hết các DN đều cho rằng giá dịch vụ VT hiện còn cao, nhất là điện thoại liên tỉnh, quốc tế và di động, chỉ riêng dịch vụ VoIP được đánh giá là thấp. Khảo sát cũng cho thấy một điều: mức độ co giãn về nhu cầu sử dụng dịch vụ VT so với giá theo chiều tỷ lệ nghịch, nghĩa là nếu giá VT giảm 10% thì nhu cầu sử dụng sẽ tăng khoảng 6%. Như vậy, nếu giá VT giảm khoảng 1/3 so với hiện tại thì thị trường VT sẽ tăng khoảng 25-30%.

    Đâu là nguyên nhân?

    Theo ông David Ray - phó giám đốc "Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh VN" thì VT vẫn là lĩnh vực còn nhiều độc quyền tại VN. Các DN nhà nước chiếm vai trò chủ đạo, khối tư nhân đóng vai trò không đáng kể, Bộ Bưu Chính Viễn Thông (MPT) vẫn bị ảnh hưởng bởi VNPT. Chẳng hạn, việc VNPT hoàn toàn quản lý đường trục quốc gia, theo các chuyên gia, là không đúng thẩm quyền. Hay có ý kiến nhận xét rằng đợt giảm cước thuê kênh quốc tế hồi đầu năm có lợi cho VNPT vì Bộ chỉ giảm cước cho các loại kênh thuê riêng và tại địa bàn nơi các công ty không thuộc VNPT không thể hoặc không thuê. Ngoài ra, MPT dường như thiếu năng lực làm trung gian giữa các công ty VT trong trường hợp có bất đồng. Sự không thành công trong việc buộc VNPT cho phép S-Fone kết nối trực tiếp chứ không phải qua tổng đài trung gian là một ví dụ.

    Thêm vào đó hệ thống pháp luật VN còn chưa thật minh bạch và dường như cả khâu soạn thảo lẫn khâu thực hiện đều có xu hướng thuận lợi nhiều hơn cho DN nhà nước? Việc chậm trễ, thiếu nhất quán trong vấn đề cấp phép của MPT cũng làm giảm sức cạnh tranh của ngành VT.

    Khảo sát cũng cho thấy, hầu hết các chính sách, quy định về VT được soạn thảo bởi một nhóm nhỏ các cán bộ BCVT và các cơ quan chính phủ khác, có rất ít DN được thu thập ý kiến và do vậy các văn bản này không bao quát hết được các vấn đề xã hội của người dùng. Trong khi đó, các lộ trình giảm giá cước tại VN thường không được thông báo trước cho các DN để họ chuẩn bị và điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của mình.

    Cơ chế cấp phép VT cũng là một trở ngại lớn làm giảm tính cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Quá trình cấp phép hiện còn mang tính chất cảm tính, thủ tục rườm rà, nhiều hướng dẫn không rõ ràng dẫn đến thời gian xét hồ sơ kéo dài....

    Và cách tháo gỡ

    Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia cao cấp Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, cho rằng khi chúng ta chưa chấp nhận cạnh tranh thật sự và bình đẳng, chưa giải quyết được những tồn tại hiện nay, thì VNPT còn tiếp tục chiếm thị phần khống chế hơn 10 năm nữa. Và chắc chắn mục tiêu các DN khác đạt 20 - 30% thị phần VT vào năm 2005 không thể đạt được. Ông Doanh đặt câu hỏi: Có thể có sự "cạnh tranh bình đẳng" giữa một công ty có 92,2% thị phần với các công ty 2-3% thị phần?

    Theo ông Doanh, để phát triển nhanh và có hiệu quả, cần phải có các quy định thông thoáng để có bứt phá mạnh mẽ. Trước hết, nên thành lập một cơ quan riêng quản lý cung cấp cơ sở hạ tầng đường trục quốc gia tách biệt khỏi VNPT. Chính phủ có thể thành lập một ban quản lý đường trục quốc gia với Bộ BCVT làm thường trực, có đại diện các cơ quan tổng hợp, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, Bộ Công Nghiệp... là những bộ hiện đã có công ty tham gia hoạt động VT, một số nhà chuyên môn giúp Chính Phủ quản lý đường trục này.

    Ông David Ray thì cho rằng, cách tốt nhất là nhà nước giữ vai trò quy hoạch và ban hành chính sách còn khu vực tư nhân sẽ chịu trách nhiệm quản lý, kinh doanh, đầu tư, tài chính và xây dựng. Song, ông nhấn mạnh " Liệu ai sẽ mong muốn đầu tư nếu như giá VT vẫn cao một cách bất hợp lý và thể hiện sự phân biệt đối xử hoặc nếu trong quá trình thương lượng giá cả và tiếp cận còn thiếu minh bạch?"

    Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực VT chỉ được hạn chế trong hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Hình thức đầu tư này đã góp phần quan trọng vào việc phát triển một số dự án VT quan trọng của VN. Tuy nhiên, cơ chế BCC đã hạn chế rất nhiều phạm vi và hiệu quả hoạt động của đầu tư nước ngoài vào VT, đặc biệt là về mặt quyền tham gia quản lý điều hành, quyền về tài sản... của nhà đầu tư. Nên chăng, đã đến lúc Nhà Nước cho phép chuyển các BCC hiện tại sang công ty cổ phần hoặc liên doanh, nhằm tăng thêm năng lực cạnh tranh trên thị trường và giảm bớt tính độc quyền đang tồn tại.

    Minh Hiền
     

    ID: B0412_34