• Thứ Hai, 31/01/2005 10:12 (GMT+7)

    TMĐT ở các nước đang phát triển năm 2004: Lên mạng nhiều, mua bán ít

    Doanh nghiệp tại các nước đang phát triển không ngừng kết nối Internet, nhưng số lượng tham gia thương thương mại điện tử còn hạn chế. Đây là kết quả của "Báo cáo thương mại điện tử và phát triển của Liên Hiệp Quốc 2004". Dù không được nhắc tên trong báo cáo này, nhưng theo khảo sát của Bộ Thương Mại VN, chúng ta cũng có thực trạng tương tự.

     

    Doanh nghiệp (DN) tại các nước đang phát triển không ngừng kết nối Internet, nhưng số lượng DN tham gia TMĐT còn hạn chế. Đây là kết quả của "Báo cáo thương mại điện tử và phát triển của Liên Hiệp Quốc 2004". Dù không được nhắc tên trong báo cáo này nhưng theo khảo sát của Bộ Thương Mại VN, chúng ta cũng có thực trạng tương tự.


    Tình hình chung

    Có máy tính và đường truyền Internet (dù tốc độ còn kém) là vấn đề không quá khó, ít nhất là đối với các DN tại thành thị ở các nước đang phát triển (ĐPT). Theo khảo sát của UNCTAD và FUNDES tại 5 thành phố thuộc 5 quốc gia châu Mỹ Latinh (Chile, Colombia, Costa Rica, Mexico và Venezuela): 97% SME (DN vừa và nhỏ) có máy tính và 94% có kết nối Internet. Theo các khảo sát khác của Liên Hiệp Quốc (LHQ), năm 2001, 50% DN Thái Lan có website, nhất là trong ngành du lịch, trong đó khoảng 40% ứng dụng các hệ thống đặt hàng trực tuyến, 13% là thành viên của các e-portal. Tại Ghana năm 2002, 85% DN có kết nối Internet, 35% có lên mạng (có website riêng hay tham gia các cổng giao dịch điện tử kinh doanh - business e-portal) và 16% tham gia TMĐT. Thực trạng tương tự tại các DN các nước Kenya, Morroco, Nigeria, Senegal, South Africa và Uganda: Mức độ kết nối và truy cập được Internet tương đối cao, nhưng khả năng tham gia kinh doanh điện tử (e-business) thì thấp. Internet chủ yếu được trang bị cho các giám đốc và lãnh đạo chỉ để gửi/nhận email, nghiên cứu.

    Mua nhiều hơn bán 

    Kinh doanh điện tử (tự động hóa và tích hợp các quá trình kinh doanh bằng CNTT-TT) không được các SME thực hiện thường xuyên, đặc biệt trong lĩnh vực bán hàng. Cụ thể là dù tỷ lệ SME đã kết nối Internet tham gia mua hàng trực tuyến chiếm 59% tại Costa Rica và 16% tại Mexico nhưng số lượng SME bán hàng trực tuyến thấp hơn nhiều, chỉ 30% tại Costa Rica và 2% tại Columbia. Ngoài ra, e-business thường chỉ được ứng dụng ở mảng dịch vụ và rất hiếm gặp ở hai lĩnh vực sản xuất và thương mại. Có thể tự luận giải nguyên nhân: các chức năng marketing và bán hàng chỉ đòi hỏi mức độ sử dụng và truy cập Internet cơ bản, trong khi năng lực quản trị dây chuyền cung ứng trong sản xuất đòi hỏi trình độ tích hợp hệ thống cao hơn nhiều. Việc tích hợp các quá trình kinh doanh ứng dụng CNTT-TT vốn là bài toán khó đối với SME thuộc các nước phát triển nên càng khó hơn đối với SME các nước ĐPT.

    Ở Philippines, các DN xuất khẩu có xu hướng ứng dụng CNTT-TT nhiều nhưng ứng dụng TMĐT chỉ ở mức căn bản. Internet chủ yếu dùng cho giao tiếp và nghiên cứu hay giữ quan hệ kinh doanh qua email. Các cuộc giao dịch ký kết hợp đồng thường được thực hiện trực diện, không trực tuyến.

    Rào cản khi ứng dụng

    Các phỏng vấn SME của LHQ cho thấy SME phải vượt qua nhiều rào cản để có thể ứng dụng CNTT-TT: chi phí CNTT-TT cao (42%), nhân viên thiếu kỹ năng (42%), vòng đời của các sản phẩm phần mềm ngắn (41%), thiếu sự tương ứng giữa cung cầu CNTT-TT (38%), thiếu đối tác, khách hàng và nhà cung ứng (41%). Với những SME ở nước ĐPT đã kết nối Internet, họ cùng quan điểm với các SME thuộc nhóm nước PT về rào cản đối với kinh doanh điện tử: thiếu bảo mật mạng (71%), chi phí phát triển cao (41%), "mất thời gian" (37%), thiếu sự sẵn sàng của khách hàng/nhà cung ứng (33%), đường truyền còn chậm và không ổn định (32%). Hầu hết các SME thiếu một chiến lược kinh doanh qua mạng định sẵn, lý do chính là mặt bằng hiểu biết chung về ứng dụng của chủ DN và các nhà quản lý chưa cao.

    Tại Indonesia, 10% các SME đã bán hàng qua mạng, như một số hãng kim hoàn bán cho các hãng bán lẻ và khách hàng thuộc các nước khác. Tuy vậy, các giao dịch B2C (DN - người tiêu dùng) hầu như không tồn tại trong nước do chi phí mạng và giao hàng quá cao. Giao dịch B2B (DN - DN) nội địa Indonesia chủ yếu vẫn dùng fax để xác nhận các đơn hàng và không chấp nhận tính hợp lệ của thư điện tử. 

     

    TRONG KHI CHỜ LUẬT, DN CỨ "TÚC TẮC" LÀM!

     
     

    "Chờ luật thì biết đến bao giờ luật mới được thông qua, còn chứng thực điện tử chỉ là quy trình công nghệ, là vấn đề kỹ thuật thôi. Phải chủ động, năng động, sáng tạo mà làm", Thứ trưởng thường trực Bộ BCVT Mai Liêm Trực đã nhận xét như vậy khi thảo luận về TMĐT. Thực tế cho thấy, Việt Nam đi khá chậm trong xây dựng cơ sở pháp lý về giao dịch điện tử so với các nước khu vực Đông Nam Á. Chẳng hạn Malaysia đã ban hành "Luật chữ ký số" từ năm 1997, Singapore ban hành "Luật giao dịch điện tử" vào năm 1998. Trên bình diện châu Á, Hồng Kông có sắc lệnh về "Giao dịch điện tử" vào năm 2000, Hàn Quốc có "Luật chữ ký điện tử" năm 1999 và sửa đổi vào năm 2001. Thái Lan và Nhật Bản cũng đã có các văn bản luật liên quan đến giao dịch điện tử vào năm 2001.
    Thực tế là một số ngành nhất định tại VN, như ngân hàng, đã không thể chờ có luật mới ứng dụng TMĐT. Với điều kiện hạ tầng kỹ thuật đầy đủ, ngành này thời gian qua đã cung cấp cho khách hàng các giao dịch điện tử, và hàng loạt các dịch vụ tiện ích như Internet Banking, Home Banking, Telephone Banking... Đã có trên 80% nghiệp vụ ngân hàng đang được tin học hoá; bước đầu thực hiện giao dịch trực tuyến (online), chứng từ điện tử và chữ ký điện tử. Bên cạnh đó, các giao dịch điện tử của ngân hàng đang tăng nhanh. Từ năm 2003 đến nay, lượng thẻ thanh toán điện tử đã lên đến 356.250 thẻ (256.250 thẻ thanh toán trong nước, 100.000 thẻ thanh toán quốc tế), gấp đôi số lượng thẻ của bảy - tám năm về trước và sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới. Ngoài ngân hàng còn có công ty Điện Toán và Truyền Số Liệu VDC đã bán vé máy bay qua mạng (và chấp nhận thanh toán trực tuyến), công ty Cổ Phần Phát Triển Bóng Đá (VFD) bán vé xem bóng đá tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình qua mạng.
    Theo các chuyên gia, nếu khung chính sách và pháp lý cho TMĐT được Chính phủ và các bộ, ngành hữu quan kịp thời ban hành và triển khai thì TMĐT của chúng ta sẽ có bước phát triển rất lạc quan, nhờ những nền tảng cơ sở hạ tầng CNTT sẵn có và số lượng người dùng Internet đang gia tăng với tốc độ cao. Khung pháp lý này sẽ là "Pháp lệnh TMĐT" (do Bộ Thương Mại chủ trì), nghị định của Chính Phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ chứng thực điện tử (Bộ Bưu Chính - Viễn Thông chủ trì)...

     


    Việt Nam không là ngoại lệ

    Theo khảo sát và đánh giá của Bộ Thương Mại, năm 2002, tại VN chưa đến 800 DN có Website. Vậy mà năm 2004, con số này đã lên đến 3.000 DN. Mặt bằng cơ sở hạ tầng CNTT của VN cũng đã được trang bị đầy đủ so với khu vực. Đường truyền tốc độ cao ADSL có mặt từ đầu năm 2003, đến nay, số thuê bao của dịch vụ này tính riêng trên thị trường Hà Nội khoảng 600 (bao gồm cả cá nhân và DN). Cũng theo Bộ Thương Mại, hiện ứng dụng TMĐT của các DN Việt Nam vẫn còn ở mức sơ khai. Nếu các DN đánh giá được vai trò của TMĐT, thì con số này sẽ còn phải hơn thế, vì Hà Nội có khoảng 23.000 DN.

    Đa số các website mới chỉ dừng lại ở mức cung cấp thông tin cơ bản về DN và sản phẩm chứ chưa thực sự là công cụ tương tác giữa khách hàng và DN. Việc giao kết, ký hợp đồng và thanh toán trực tuyến trong TMĐT chưa thực hiện được do thiếu môi trường pháp lý thích hợp (chưa có văn bản cấp chính phủ về TMĐT) và hạ tầng CNTT cần thiết. Nguồn nhân lực phục vụ ứng dụng TMĐT còn thiếu và chưa đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu, mặc dù các trung tâm đào tạo CNTT, các khoa CNTT tại các trường ĐH vẫn tiếp tục tăng về số lượng. Nhận xét về vấn đề này, thứ trưởng Bộ Thương Mại Lê Danh Vĩnh nói: "Hiệu quả ứng dụng TMĐT chưa cao do DN tham gia TMĐT một cách tự phát. Chính phủ chưa có sự chỉ đạo, hướng dẫn hoặc định hướng chính thức nào và chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cần thiết cho DN. Người dân chưa quen với phương thức mua hàng gián tiếp, DN chưa xây dựng được những quan hệ đối tác đủ tin cậy để đưa phương thức giao dịch B2B vào áp dụng cho giao dịch thường xuyên".

    Nội Nhân - Hoàng Giang

    Nguồn:www.asianfoundation.org/ICT/surveys.html; http://r0.unctad.org/ecommerce/ecommerce_en/edr04_en.htm

     

    ID: B0502_37