• Thứ Năm, 05/05/2005 10:15 (GMT+7)

    Tin học hoá doanh nghiệp từ đâu?

    Quan sát trogn khu vực ASEAN, có thể hình dung trình độ tin học hoá trung bình của doanh nghiệp như sau: biết sử dụng Internet nhưng một phương tiện tiếp thị và giao dịch thương mại, có kế hoạch toàn diện ứng dụng CNTT trong quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh, cán bộ quản lý đều biết sử dụng máy tính và các hệ thống ứng dụng phù hợp

    Quan sát trong khu vực ASEAN, có thể hình dung trình độ tin học hoá trung bình của doanh nghiệp như sau: biết sử dụng Internet như một phương tiện tiếp thị và giao dịch thương mại, có kế hoạch toàn diện ứng dụng CNTT trong quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh, cán bộ quản lý đều biết sử dụng máy tính và các hệ thống ứng dụng phù hợp.

    Hai bước sử dụng Internet để tiếp thị và giao dịch

    THH DN cần gắn liền với tăng hiệu quả quản lý sản xuất, kinh doanh.

     

    Xây dựng gian hàng điện tử: Đây là việc mà doanh nghiệp (DN) nào cũng làm được và nên làm vì nó trực tiếp tăng khả năng giao dịch với khách hàng. Đó là một show-room trên Internet giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ của DN với đầy đủ thông tin, kèm theo một khung giao dịch trao đổi giữa khách hàng và DN. Chỉ cần đầu tư một phần mềm (PM) CMS (Content Management System – PM quản lý nội dung) thông dụng, đăng ký tên miền, thuê không gian cài đặt trên Internet và sau một tuần đào tạo là DN có thể tự thiết lập, quản lý gian hàng trực tuyến của mình. Tổng chi phí khoảng 10 triệu đồng mà lợi ích thu về rất khả quan: Mở rộng khả năng giao dịch mua bán với khách hàng trong nước và quốc tế, tập dượt làm quen với môi trường xúc tiến thương mại toàn cầu, tạo lập “đầu ra” cho hệ thống thông tin doanh nghiệp, khai thác tài nguyên mới...

    Tham gia cổng giao dịch điện tử của tỉnh, vùng và quốc gia: Tiến thêm một bước, DN có thể hội nhập với cộng đồng bằng cách đưa gian hàng điện tử của mình tham gia cổng giao dịch điện tử của tỉnh, của vùng hay quốc gia. Đó là những sân chơi lớn hội tụ nhiều thế mạnh như “hệ thống siêu thị điện tử”, giao diện đa ngôn ngữ, đầu mối cung cấp đa dịch vụ từ thông tin, tư vấn, đào tạo đến chứng thực, thanh toán điện tử... Việc tham gia cổng giao dịch này đối với DN rất hữu ích vì được hiện diện trên cổng giao dịch chính thống của Nhà Nước, có nhiều cơ hội tiếp xúc với khách hàng, nhà đầu tư và được miễn nhiều khoản phí (thuê không gian, giải pháp PM, hướng dẫn sử dụng, bảo vệ an toàn...). Được biết VCCI đang kết hợp với công ty cổ phần Dịch Vụ Bưu Chính Viễn Thông Sài Gòn (SPT) xây dựng cổng giao dịch thương mại trên Internet mà gần đây nhiều người quen gọi là sàn giao dịch quốc tế. Tham gia cổng này, DN được tiếp cận với thông tin thị trường khá phong phú (gồm các thị trường EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Châu Phi, AFTA...), được cung cấp khá chi tiết hệ thống thông tin pháp lý của Nhà Nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, được giới thiệu và quảng bá thương hiệu thông qua các kênh giao dịch trực tuyến và không trực tuyến (như theo con đường ngoại giao chẳng hạn). Không chỉ Hà Nội, nhiều địa phương như Lào Cai, Lạng Sơn, Cà Mau, Kiên Giang, Tây Ninh... đã chọn cách hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp của mình tiếp xúc với môi trường mới này để làm quen dần với cách giao dịch thương mại với quốc tế qua Internet. Thành phố HCM cũng đang tích cực xây dựng cổng giao dịch trên Internet phục vụ trên 40.000 DN của TP.

    Ba bước lập kế hoạch ứng dụng CNTT

    Chọn phương pháp: Nguyên tắc chung: cần có kế hoạch tổng thể ứng dụng CNTT vào hiện đại hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN phù hợp với yêu cầu phát triển và khả năng đầu tư của DN. Kế hoạch này phải hướng đến tin học hóa (THH) hệ thống, tích hợp và toàn diện chứ không phải rời rạc, đơn lẻ như trước đây. DN có thể tìm một nhà tư vấn tin cậy để xây dựng kế hoạch THH cho mình. Ở một số địa phương như Thừa Thiên Huế, Trung Tâm CNTT của tỉnh chắc chắn là một địa chỉ tin cậy. Ngoài ra, VCCI vừa được Chính Phủ giao chủ trì chương trình THH DN (E-business). Chương trình này tập trung lý giải vấn đề triển khai THH như thế nào là tối ưu nhất với từng loại hình DN, tùy theo quy mô và yêu cầu cụ thể của DN. Viện Tin Học DN thuộc VCCI cũng là một trong các địa chỉ mà DN có thể tìm kiếm sự hỗ trợ, tư vấn.
    Hình thành môi trường thông tin điện tử: Trang bị mạng máy tính, thiết lập website điều hành tác nghiệp nội bộ, tổ chức CSDL dùng chung, chia sẻ tài nguyên và phân công nhiệm vụ trong môi trường mạng, gắn hệ thống với “gian hàng điện tử trực tuyến” hay “cổng giao dịch điện tử” trên Internet là việc nên làm trong bước khởi đầu. Việc bắt buộc các cá nhân tham gia quản lý DN làm việc trong môi trường thông tin điện tử chung là một bước đột phá mang tính cải cách triệt để.

    Phát triển từng bước, mở rộng và hoàn thiện dần: Trong môi trường thông tin điện tử, phát triển dần các ứng dụng theo trật tự ưu tiên cái gì cần trước thực hiện trước và phát triển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Tranh thủ tối đa những nguồn lực tiềm tàng từ bên ngoài phục vụ sự phát triển của DN. Ví dụ, thông qua môi trường mạng, tìm kiếm các nguồn chất xám trong xã hội gần và phù hợp với hướng phát triển của DN nhằm thu hút, làm giàu hàm lượng tri thức trong sản phẩm và dịch vụ của DN. Nên hướng đến giải pháp hoạch định các nguồn tài nguyên doanh nghiệp (ERP) hay cao hơn là có cả một chiến lược xây dựng doanh nghiệp điện tử (e-business).

    Thay lời kết

    Triển khai THH DN thuận lợi hơn quá trình THH quản lý nhà nước, THH giáo dục nhiều. Trước tiên, THH DN gắn liền với hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DN. Nếu THH làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng doanh số bán hàng, cung cấp dịch vụ, mở rộng thị trường và tạo điều kiện cho DN phát triển bền vững thì không DN nào bỏ qua cơ hội này. Thứ hai, THH DN không gặp trở ngại về quy chế quản lý vì nếu cần thay đổi phương pháp hay quy chế quản lý để đạt hiệu quả ứng dụng CNTT cao hơn thì DN sẽ sẵn sàng. Thứ ba, tất cả các ứng dụng trong DN đều trực tiếp đáp ứng yêu cầu phát triển nên không cần phải vận động, thuyết phục. Cuối cùng, hiện đại hóa là nhiệm vụ tự thân của DN, không ai làm thay được, vì thế, từ những đặc điểm nêu trên, dự đoán chương trình THH DN sẽ phát triển rất nhanh trong những năm tới.

     

    LƯỢC SỬ QUÁ TRÌNH THH DOANH NGHIỆP

     
     

    THH quản lý doanh nghiệp (DN) ở nước ta đã được đặt ra từ lâu. Khoảng giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, ở phía Bắc có máy tính dòng Minsk 22 và 32, còn ở phía Nam là dòng máy IBM 360 - máy tính điện tử (MTĐT) tân tiến nhất của thế giới vào thời điểm đó ở khu vực Đông Nam Á. MTĐT ở phía Nam được dùng nhiều trong quản lý kho tàng và DN, trong số đó phải kể đến các công ty BGI, Điện lực 2, xưởng đóng tàu Ba Son, nhà máy dệt...
    Đầu những năm 80, chương trình quốc gia đầu tiên về tin học mang ký hiệu 48-05 (do GS.Phan Đình Diệu làm chủ nhiệm) được triển khai, giai đoạn 1980 – 1985. Trong chương trình này, có một đề tài dành riêng cho THH quản lý DN (ký hiệu 48-05-14). Ngày đó, đầu vào (vật tư, nguyên vật liệu), đầu ra (sản phẩm, hàng hóa) Nhà Nước lo, lao động Nhà Nước trả lương nên việc triển khai THH trở nên hình thức. Hơn nữa, máy móc thiết bị cũ đã bắt đầu trục trặc, linh kiện và máy móc thiết bị mới không nhập được do bị cấm vận, máy tính tự thiết kế lấy (như VT-83) thì còn rất sơ khai, PM phát triển trên máy tính còn rất yếu. Các cán bộ tin học rất “đa năng”: vừa phân tích thiết kế, vừa lập trình, cài đặt, chạy thử và cả sửa chữa nhỏ. Chương trình THH kéo dài thêm một kỳ nữa (giai đoạn 1986 - 1990) với một chút thay đổi, máy tính mạnh hơn (với AT 386 rồi 486), PM khá hơn (với sự xuất hiện của Windows, Fox, PL1...) nhưng cơ chế quản lý chưa thay đổi đáng kể nên kết quả THH rất hạn chế. Dù vậy, cuối thập niên 80 xuất hiện một số ứng dụng trong DN có ý nghĩa thực tế và được đánh giá cao như hệ thống điều khiển lò nung xi măng (nhóm tác giả Đặng Đình Phu và cộng sự), PM điều khiển dệt hoa văn trên thảm len (nhóm tác giả Giang Công Thế, Vũ Duy Mẫn và cộng sự) và PM hỗ trợ giác sơ đồ cắt vải trong ngành may mặc (nhóm tác giả Nguyễn Trọng, Lê Trường Tùng và những người khác). Đó là những điểm sáng trên bức tranh toàn cảnh khá ảm đạm về TTH trong DN ở nước ta thời đó.
    Từ đầu thập niên 90 đến nay, THH DN tuy vẫn được nhắc đến trong những văn bản chính thức nhưng thực tế cho thấy gần như đã bị lãng quên bên cạnh chương trình THH Quản Lý Hành Chính Nhà Nước (1996 – 2000 và 2001 - 2005). Đặc biệt năm 2005 này, năm đàm phán cuối cùng để trở thành thành viên chính thức của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và là năm cuối cùng chúng ta ”lấy đà” để hội nhập với AFTA, đáng tiếc, thứ vũ khí mạnh nhất tạo thế thượng phong trong cạnh tranh là CNTT vẫn chưa được DN trang bị đầy đủ. Theo thống kê của Phòng Thương Mại Công Nghiệp Việt Nam (VCCI), tổng số DN Việt Nam hiện nay là 160.000, trong đó, chỉ hơn 5000 DN có website, đa số sử dụng tiếng Việt. DN có trang bị máy tính và sử dụng PM ứng dụng khá đông đảo, ước tính trên chục ngàn nhưng đại đa số sử dụng các PM rời rạc theo cách “cần đâu ứng đó” (nổi bật là PM kế toán, quản lý kho, quản lý nhân sự, thống kê bán hàng...) trên các máy đơn. Hầu như không có thiết kế hệ thống và rất ít DN “dám” đầu tư ứng dụng CNTT một cách bài bản như hướng đến hoạch định các nguồn tài nguyên doanh nghiệp (ERP), xây dựng doanh nghiệp điện tử (e-business). Số DN thật sự đạt trình độ THH cao thường là các DN nước ngoài, liên doanh hay có quan hệ giao dịch thường xuyên với thị trường quốc tế như bưu chính viễn thông, ngân hàng, hàng không, dầu khí...

     

    Nguyễn Tuấn Hoa
    Viện Khoa Học Công Nghệ Việt Nam

    ID: B0505_14