Nam. Đây không phải lần đầu tiên vấn đề này được xới lên và chắc không có lần cuối cùng." /> Nam. Đây không phải lần đầu tiên vấn đề này được xới lên và chắc không có lần cuối cùng."/> Nam. Đây không phải lần đầu tiên vấn đề này được xới lên và chắc không có lần cuối cùng."/>
  • Thứ Tư, 14/09/2005 08:18 (GMT+7)

    Bức xúc phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam

    Một trong những nội dung được nhắc đến và thu hút sự chú ý của nhiều đại biểu trong hai ngày hội thảo về CNTT-TT tại Hải Phòng là vấn đề làm gì để phát triển ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam. Đây không phải lần đầu tiên vấn đề này được xới lên và chắc không có lần cuối cùng.

    Được xem là năm thành công của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam (CNgPMVN), năm 2004, doanh số phần mềm và dịch vụ cả nước chỉ đạt 170 triệu USD. Tuy tăng 33% so với năm 2003 nhưng con số này thấp hơn nhiều so với mục tiêu được đề ra trước đó.

    TPHCM, nơi được coi là đầu tầu với chỉ tiêu 80 triệu USD năm 2005 (chưa tới 1% GDP TPHCM) đang được đánh giá là hoàn toàn có thể đạt khoảng 400-450 triệu USD năm 2010 (khoảng 2,5-3% GDP TPHCM năm 2010) nếu có bước đi đúng và hiệu quả. Con số 1 tỷ USD năm 2010 cho cả nước cũng được nhiều chuyên gia khẳng định là chỉ tiêu khả quan so với những tiềm năng và thế mạnh của ngành công nghiệp trí tuệ này.

     

    Chưa như mong muốn: Vì sao?

    Có khá nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến việc CNgPMVN phát triển chưa như mong muốn, có thể liệt kê như sau:

    - Tỷ lệ chi cho CNTT/GDP rất thấp mà lại chủ yếu cho phần cứng. Nếu thị trường nội địa chưa phát triển thì CNgPMVN khó mà phát triển được

    - Tỷ lệ vi phạm bản quyền PM còn quá cao.

    - Đầu tư cho phát triển PM trong các DNPM còn khá nhỏ giọt trong khi muốn phát triển cần có những đầu tư lớn và mạnh.

    - Sức ép từ những nhà đầu tư nước ngoài.

    - Nhận thức về vai trò của ứng dụng CNTT trong xã hội nói chung chưa cao.

    - Sự hỗ trợ của Nhà nước cho ngành công nghiệp non trẻ này còn chưa đủ mạnh.

    Có 3 kịch bản được Vụ CNgCNTT, Bộ BCVT đưa ra cho phát triển CNgPMVN tới năm 2010 ở 3 mức: thấp hơn, trung bình và cao hơn tỷ lệ tăng trưởng 33% của năm 2004. Theo đó, việc đạt tới 1 tỷ USD hay không và mức tăng trưởng cao hay thấp hơn phần lớn phụ thuộc vào việc Nhà Nước sẽ giữ nguyên hay là tăng cường các cơ chế chính chính sách hỗ trợ hiện nay.

    Trong khi đó, theo một kết quả khảo sát từ VNCI (tổ chức Liên Kết Ngành Phần Mềm Việt Nam) thì mức độ hiểu biết và tham gia vào các chương trình, dự án nhà nước của DNPMVN nói chung còn rất thấp. Nhiều doanh nghiệp không biết đến các chương trình, dự án CNTT của Chính Phủ. Ngoài Đề Án 112 được nhiều phương tiện truyền thông nhắc tới (nên phần lớn các doanh nghiệp đều biết) thì các dự án, chương trình về CNTT lớn hầu hết chỉ dưới 50% doanh nghiệp biết đến (ở TPHCM tỷ lệ là 20-30%). Tỷ lệ các doanh nghiệp tham gia hay thụ hưởng còn thấp hơn nữa.

    Cũng từ khảo sát trên cho thấy, một trong những trở ngại đầu tư phát triển sản phẩm đối với các DNPM là việc vay vốn ngân hàng. Đây là trở ngại lớn nhất vì nếu DNPM không có tài sản thế chấp thì các ngân hàng sẽ không cho vay vốn dựa trên doanh thu tiềm năng.


    3 hướng đi mới

    Đại diện cho Hiệp Hội Doanh Nghiệp Phần Mềm Việt Nam (VINASA), ông Phạm Tấn Công đã đưa ra 3 mũi nhọn được xem là có tính chất đột phá cho hướng đi của CNgPMVN, đó là: xây dựng các phần mềm nhúng; phát triển trò chơi trên máy tính và các thiết bị khác; phát triển các giải pháp ERP.

    Ông Công lập luận: tổng thị trường phần mềm nhúng thế giới năm 2004 đạt khoảng 46 tỷ USD (theo Business Communications Company). Năm 2004, thị trường phần mềm nhúng của Nhật Bản đạt khoảng 20 tỷ USD với 150.000 nhân viên phát triển. Đặt một mục tiêu khiêm tốn, nếu đến năm 2010 Việt Nam đủ năng lực thực hiện khoảng 5% khối lượng công việc của thị trường Nhật thì chúng ta đã có một lực lượng khoảng 7.500 chuyên gia phần mềm nhúng, đạt doanh số khoảng 112 triệu USD. Để đạt được mục tiêu này, theo ông Công, chúng ta sẽ phải xây dựng vườn ươm cho các doanh nghiệp phần mềm nhúng; xây dựng các chương trình liên kết doanh nghiệp - trường đại học để đào tạo kỹ sư; xây dựng các trung tâm đào tạo về phần mềm nhúng với sự hỗ trợ của Nhật Bản và một số đối tác khác.

    Một hướng đi khác cũng được xem là khá tiềm năng và đang trở nên sôi động trong thời gian vừa qua đó là thị trường game. Tấm gương là Hàn Quốc, năm 2002 đạt 2,8 tỷ USD và dự báo sẽ đạt 8,5 tỷ USD vào năm 2007, tốc độ tăng trưởng 25%/năm. Nếu phát triển hướng này Việt Nam có thể đạt tới mục tiêu 150 triệu USD doanh số vào năm 2010, trong điều kiện cần có trên 10.000 chuyên gia phát triển trò chơi; khoảng 5 doanh nghiệp quy mô lớn trên 200 lập trình viên và khoảng 150 doanh nghiệp vừa và nhỏ khác hoạt động trong lĩnh vực này.

    Với dự đoán về sự bùng nổ áp dụng ERP trong vòng 2-3 năm nữa, VINASA dự báo rằng với 200 ngàn doanh nghiệp hiện tại và sẽ là 250 ngàn vào năm 2010, đây là sẽ là một thị trường lớn cho các DNPMVN có sản phẩm ERP. Nếu tới năm 2010, hệ thống ERP được áp dụng cho 35% doanh nghiệp lớn của nhà nước, 15% trong doanh nghiệp vừa và nhỏ (tất nhiên nếu tỷ lệ phần mềm nội địa được sử dụng cao), thì con số cho thị trường ERP nội địa có thể đạt khoảng 50 triệu USD/năm.

    Với cả 3 mục tiêu trên, xem ra lời giải cho CNgPMVN giai đoạn tới có chút màu hồng. Nhưng màu hồng đó có giúp cho CNgPMVN thật sự khởi sắc hay không, mục tiêu đề ra có đạt được hay không vẫn cần thời gian trả lời. Khi mà kết quả ứng dụng CNTT trong nước vẫn còn thấp, khi mà nhiều PMVN có chất lượng tốt nhưng yếu về lợi thế cạnh tranh chỉ vì tư tưởng sính ngoại; khi mà PMVN vẫn chỉ sản xuất theo quy mô nhỏ... thì khó có thể nói tới một nền CNg trong lĩnh vực PM. Nhiều doanh nghiệp cho rằng không cần Nhà Nước phải ban hành các chính sách ưu đãi hay khuyến khích mới, chỉ cần các chính sách, biện pháp đã ban hành được thực hiện thật tốt, đã là rất triển vọng rồi./.

     

    Thu Hiền

    ID: O0509_1