• Thứ Sáu, 04/11/2005 14:31 (GMT+7)

    Làm ăn với Nhật, cần gì?

    Giữa tháng 9/2005, 16 doanh nghiệp phần mềm (DNPM) Nhật đã đến tham quan và tiếp xúc trực tiếp với các DN Việt Nam trong lãnh vực PM và đào tạo CNTT nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác gia công xuất khẩu sang Nhật. Tạp chí TGVT - PCW VN sêri B đã trao đổi với ông Nguyễn Vĩnh Tâm, Giám đốc công ty Tâm Đạt, người có nhiều năm sống và làm việc tại Nhật.

    Giữa tháng 9/2005, 16 doanh nghiệp phần mềm (DNPM) Nhật đã đến tham quan và tiếp xúc trực tiếp với các DN Việt Nam trong lĩnh vực PM và đào tạo CNTT nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác gia công xuất khẩu sang Nhật. Tạp chí TGVT – PCW VN sêri B đã trao đổi với ông Nguyễn Vĩnh Tâm, giám đốc công ty Tâm Đạt, người có nhiều năm sống và làm việc tại Nhật.

    Tại sao công ty Tâm đạt chọn Nhật là thị trường chính?

    Năm 1995, tôi sang Nhật du học theo chương trình học bổng của Chính Phủ Nhật dành cho Việt Nam. Trong thời gian học tập và làm việc ở Nhật, tôi nhận thấy Nhật có rất nhiều công nghệ nguồn, chẳng hạn như tự động hoá ngành sản xuất. Sau khi tốt nghiệp, làm việc cho các công ty của Nhật, tôi thấy khuynh hướng DN CNTT Nhật sẽ chuyển hướng vào thị trường Việt Nam. Do đó, tôi đã từ chối lời mời ở lại làm việc tại Nhật và trở về nước thành lập công ty Tâm Đạt (TDA Solutions) để đón đầu tiềm năng này và thực hiện ý định chuyển giao các công nghệ nguồn của Nhật Bản về Việt Nam.

    Ông có thể cho biết tiềm năng thị trường PM của Nhật?

    Theo thống kê của JISA (Hiệp Hội Dịch Vụ CNTT Nhật Bản), qui mô thị trường CNTT của Nhật năm 2002 được chia ra như sau: tích hợp hệ thống (System integration): 35,1%, phát triển PM (software development): 23%, vận hành hệ thống (system operation): 10%, dịch vụ xử lý (processing service): 6,7%, phát triển và bán sản phẩm PM (software product development and sale): 3,5%, phần cứng (hardware) 9,2%... Như vậy, PM ở Nhật hiện chiếm hơn 60% qui mô thị trường CNTT. PM nhúng (embeded system), theo thống kê không chính thức, chiếm khoảng 40% thị phần PM. PM nhúng trải dài từ lĩnh vực điện thoại cầm tay, bo mạch xử lý nhận dạng IC card, ví tiền điện tử Felica, cho tới các hệ thống xử lý mạng. Ngành tài chính ngân hàng cũng chiếm tỉ trọng đến 40% thị phần PM của Nhật. Các cổng xử lý dữ liệu (process gateway) từ máy ATM trước khi chuyển đến các máy chủ Mainframe là những PM có thể được gia công (outsource)...

    Ngoài ra, game cũng chiếm thị phần tương đối. Giai đoạn 2000-2005 là thời hoàng kim của game cho Play Station. Sắp tới là thời đại của trò chơi trên điện thoại di động (game mobile) và trò chơi trực tuyến (game online).

    Các DN PM Việt Nam nhắm đến thị trường Nhật cần quan tâm đến PM nhúng, tài chính ngân hàng và game. Nếu đầu tư và xâm nhập thành công vào các lĩnh vực trên, DN Việt nam sẽ có một thị trường rất lớn.

    Theo ông, DN Việt Nam cần chuẩn bị gì khi làm ăn với Nhật?

    DN Nhật thường đánh giá cao những đối tác đáp ứng những yêu cầu sau:

    Có chiến lược kinh doanh lâu dài, thể hiện ở định hướng phát triển công ty trong 5 năm, 10 năm. Các DN cũng cần nêu cụ thể lĩnh vực hoạt động, chẳng hạn như làm PM kế toán, tài chính ngân hàng, quản lý điện, gas...

    Có khả năng tài chính vững chắc để theo đuổi dự án.

    Bảo mật thông tin. Các công ty Nhật rất ngại giao việc cho các công ty đang cho công ty khác mượn nhân viên của mình hay mượn nhân viên của nơi khác. Vì điều này có thể gây rò rỉ thông tin mật của sản phẩm sang đối thủ cạnh tranh.

    Ngôn ngữ và văn hóa Nhật là yếu tố quan trọng khi làm ăn với Nhật.

    Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm cơ hội kinh doanh với các đối tác Nhật Bản?

    Theo tôi, cần phải chuẩn bị nội lực thật vững trước khi tìm kiếm và xúc tiến thương mại ở thị trường này. Vì nếu nội lực không vững, khách hàng Nhật sẽ đến rồi đi, sau đó, rất khó mong họ quay lại, vì khách hàng Nhật không đợi chúng ta.

    Do đó, làm ăn với đối tác Nhật, cần hiểu rõ văn hoá Nhật để có cách tiếp cận thích hợp với khách hàng, đồng thời phải kiên nhẫn xây dựng mối quan hệ tin cậy lẫn nhau. Tính cách người Nhật rất tỉ mỉ. Người Nhật đánh giá đối tác thiên về cảm tính hơn so với người Âu, Mỹ. DN Nhật thường tìm đối tác để làm ăn lâu dài nên họ tìm hiểu rất kỹ đối tác.

    Mặt khác, DN nên đánh giá đúng thực lực của mình và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường Nhật để xây dựng chiến lược phát triển lâu dài như: đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp; qui trình phát triển PM thông qua các chuẩn CMM, CMMI; lập kế hoạch tài chính vững chắc.

    DN Nhật thường yêu cầu tốc độ thực hiện đơn đặt hàng nhanh, thời gian gấp, và áp lực công việc lớn. Do đó, cần có khả năng quản trị nhân sự đáp ứng những đơn đặt hàng lớn trong thời gian ngắn và trả lời nhanh các đơn đặt hàng.

    Để xây dựng mối quan hệ làm ăn lâu dài và vững bền phải trải qua các bước như vậy, không nên “đốt” giai đoạn. Do đó, các DN Việt nam cần kiên nhẫn.

    Để thâm nhập thị trường Nhật thành công, theo ông, DN Việt Nam cần sự hỗ trợ gì từ Chính Phủ?

    Việt Nam cần tạo được thương hiệu gây tiếng vang trong ngành PM để thu hút đối tác Nhật. Muốn vậy, cần chọn lọc và hỗ trợ một số DN mạnh của Việt Nam khai phá thị trường Nhật. Sau khi đã phát triển thương hiệu sẽ mở rộng kết nối kinh doanh đến tất cả DN ở Việt Nam. Ngoài ra, Nhà Nước nên hỗ trợ DN lấy chứng chỉ về qui trình phát triển PM như CMM, CMMI và tạo điều kiện cho các cơ quan cấp chứng chỉ CMM, CMMI đặt chi nhánh tại Việt Nam.

    Buổi Kết Nối Kinh Doanh (Business Matching) do Vinasa, Hội Tin Học TP.HCM và Tổ Chức Thúc Đẩy Xúc Tiến Thương Mại Nhật (Jetro) tổ chức vừa qua rất có ích cho DN trong nước tìm kiếm đối tác và xúc tiến thương mại vào thị trường Nhật. Tôi cho rằng cần tổ chức những hoạt động này nhiều hơn nữa.

    Đại Nguyên

    Công ty Tâm Đạt - TDA Solutions Co., Ltd.
    341/39S Lạc Long Quân, Q.11, TP.HCM
    Tel: (84.8) 9745311 - Fax: (84.8) 9745311
    http://www.tdasolution.com

    ID: B0510_56