• Thứ Hai, 06/03/2006 15:38 (GMT+7)

    Tạo vốn cho quỹ phát triển CNTT

    Trong khi Việt Nam đang cần vốn đầu tư phát triển CNTT thì nguồn tài sản trí tuệ sinh ra từ các dự án CNTT lại đang bị phung phí. Khai thác nguồn tài sản này đưa vào quỹ đầu tư phát triển CNTT có thể là một giải pháp đột phá.

    Trong khi Việt Nam đang cần vốn đầu tư phát triển CNTT thì nguồn tài sản trí tuệ sinh ra từ các dự án CNTT lại đang bị phung phí. Khai thác nguồn tài sản này đưa vào quỹ đầu tư phát triển CNTT có thể là một giải pháp đột phá.

    Huy động vốn rất khó

    Trong thời gian qua, ứng dụng CNTT gặp khó khăn do cơ chế tài chính không còn phù hợp. Trước mắt, "Chương trình trọng điểm quốc gia về ứng dụng và phát triển CNTT&TT giai đoạn 2006-2010" có thể đưa ra một cơ chế tạm thời khai thông ách tắc. 

     
                                     Hình 1
    Mặc dù vậy, đầu tư cho phát triển CNTT vẫn cần thêm những biện pháp khác. Nếu không, thị trường ứng dụng CNTT có nguy cơ trở thành một sân chơi mà các công ty quốc tế có ưu thế tuyệt đối. Kinh nghiệm cho thấy các quốc gia thành công đều phải sử dụng thị trường nội địa tạo lực vươn lên.

    Để CNTT thực sự trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, Nhà Nước (NN) cần trực tiếp đầu tư vào những khâu dài hơi như R&D, phát triển thị trường, đào tạo... Đây là những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, nhiều rủi ro, phối hợp nhiều nguồn lực mà hiện nay các doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức. Vì thế, Chỉ Thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính Trị đã chỉ ra biện pháp "hình thành quỹ hỗ trợ, quỹ đầu tư khắc phục rủi ro cho ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin".

    Không có đầu vào

    Tuy nhiên, cho đến nay các quỹ này vẫn chưa hề được xây dựng. Một trong những khó khăn chính là không thể huy động được nguồn đầu vào. Luật Ngân Sách hiện tại không cho phép NN đầu tư trực tiếp vào các quỹ đầu tư mà các doanh nghiệp sẽ được sử dụng. Mặt khác, đầu tư vào phát triển CNTT là phải chấp nhận rủi ro, mà đối với ngân sách NN, chấp nhận rủi ro là vấn đề nan giải. Một số chuyên gia đã thử đề nghị ghi nhận các quỹ này trong Luật CNTT đang soạn thảo, nhưng chưa đạt được sự đồng thuận. Một số nhà quản lý trong các ngành tài chính, đầu tư vẫn cho rằng CNTT thuộc về khoa học công nghệ (KHCN), phải huy động vốn từ các quỹ nghiên cứu KHCN. Thuật ngữ "công nghệ thông tin" đã gây ra ngộ nhận này. Thực ra, CNTT có rất nhiều đặc trưng cần phân biệt với các nội dung công nghệ có liên quan. Trong thực tế, đa số nội dung quan trọng của CNTT không thỏa mãn tiêu chí của một đề tài nghiên cứu KHCN.

    Tài sản trí tuệ trong các ứng dụng CNTT

    Một trong các đặc trưng của CNTT là khả năng sử dụng lại nhiều lần các tài sản trí tuệ (TSTT - intellectual property). Khi xây dựng một hệ thống thông tin, một khối lượng lớn kinh nghiệm về công nghệ, tổ chức, giải pháp…, gọi chung là TSTT, được tích lũy. Như vậy, một dự án ứng dụng CNTT có hai đầu ra: hệ thống thông tin cần xây dựng và các TSTT. Cho đến nay, đầu ra TSTT thường bị quên lãng (hình 1).
     

    Hình 2


     

    Chính lượng TSTT này làm dự án đầu tư về ứng dụng CNTT khác dự án đầu tư xây dựng cơ bản và có nhiều nét tương tự các công nghệ cao khác. TSTT đã tích lũy cần được sử dụng như là nguồn đầu vào quan trọng cho các dự án khác. Đối với các doanh nghiệp, việc sử dụng lại nhiều lần TSTT sẽ tạo ra sức tăng trưởng theo cấp số nhân theo chu trình lặp sau đây (hình 2).

    Các dự án về CNTT (đặc biệt là dự án phần mềm và có quy mô hệ thống tương đối lớn), cho dù là thuần túy ứng dụng đều có khả năng tạo ra một lượng TSTT đáng kể. Đây là một thứ tài sản cần được đầu tư và tích lũy.

    TSTT tạo sức cạnh tranh

    Cho đến nay, TSTT chưa được tích lũy và khai thác một cách có hệ thống, trong khi lẽ ra nguồn lực này phải được sử dụng để phát triển mạnh CNTT nội địa. Khi xây dựng các dự án ứng dụng CNTT, người ta vẫn còn áp dụng tư duy xây dựng cơ bản, cố gắng tìm định mức để tính giá thành. Thực ra, giá thành sẽ rất cao đối với các hệ thống được xây dựng một lần, không sử dụng các công nghệ lõi và TSTT sẵn có. Giá thành sẽ thấp dưới giá phát triển mới rất nhiều nếu như sử dụng các TSTT cho nhiều dự án giống nhau. Phát triển một con chip đầu tiên có thể cần đến hàng tỷ USD, nhưng khi đến tay người sử dụng, giá mỗi con chip thấp hơn rất nhiều.

    Do đó, nếu sử dụng các công thức dựa trên chức năng để tính giá thành cho từng dự án sẽ dẫn tới lãng phí đầu tư. Các hệ thống tương tự nhau sẽ phải đầu tư nhiều lần trên cùng một cơ sở giá thành, gây lãng phí cho NN. Điều này cắt nghĩa tại sao các công ty phần mềm đầu tư có chiều sâu vào công nghệ có nguy cơ thua lỗ, trong khi một số công ty khác nếu biết "chạy dự án" lại có tỷ lệ lợi nhuận cao một cách vô lý.

    Trong một môi trường phát triển lành mạnh, có chế độ đánh giá "hậu kiểm" chặt chẽ, đảm bảo chất lượng, các TSTT sẽ dần được hoàn thiện và trở thành sản phẩm độc lập mở đường cho phát triển công nghiệp. Tích lũy được TSTT về CNTT sẽ nâng cao được chất lượng các hệ thống thông tin và dần tạo ra các sản phẩm có tính cạnh tranh cả về chất lượng và giá thành.

    Xây dựng kho tàng TSTT quốc gia về CNTT

    Cho đến nay, cách suy nghĩ tách bạch hai mặt ứng dụng và phát triển CNTT vẫn tương đối phổ biến, tương tự tư duy tách bạch thị trường khỏi sản phẩm trong thời kinh tế bao cấp. Công nghiệp CNTT Việt Nam đang đói nguồn đầu tư cho công nghệ. Trong khi đó, các ứng dụng CNTT đang bỏ phí hoài nguồn lực. Một số đề án có đầu tư lớn, tạo ra lượng TSTT có giá trị, nhưng lại "giam chân" không cho phép đưa các TSTT này ra sử dụng cho công nghiệp, vì các chủ đầu tư không có chức năng này.

    Đương nhiên, quyền sở hữu TSTT thu được từ các dự án ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách NN phải thuộc về NN. Nhưng cho đến nay, các đơn vị đại diện cho NN làm chủ đầu tư các dự án vẫn tự động nắm giữ quyền sở hữu này. Rõ ràng, điều đó không kích thích việc khai thác TSTT. Chúng tôi đề nghị xây dựng một kho tàng TSTT quốc gia về CNTT để tích lũy, thử nghiệm, phát triển, nâng cấp và đưa TSTT ra thị trường hoặc đưa vào sử dụng trong các dự án ứng dụng CNTT khác.

    Để nâng cao hiệu quả của quá trình này, cơ quan quản lý kho không nên trực tiếp kinh doanh TSTT. Việc đó cần thông qua một cơ chế thị trường, bắt đầu là việc xây dựng một số công ty cổ phần. TSTT sẽ được chuyển nhượng cho các công ty này dưới hình thức hùn vốn đầu tư hoặc giao dịch mua bán. Giao dịch mua bán có thể dưới hình thức mua đứt bán đoạn (turn-key), cấp giấy phép sử dụng (license) hoặc hợp đồng ăn chia (royalty). Số tiền thu được sẽ đưa được vào quỹ đầu tư khắc phục rủi ro cho ứng dụng và phát triển CNTT do không sinh ra trực tiếp từ ngân sách NN (hình 3).

    Đưa mô hình này vào hoạt động sẽ có một số lợi ích như sau:

    1) Huy động được đầu vào cho quỹ đầu tư phát triển CNTT.

    2) Xây dựng được thị trường kinh doanh TSTT, khởi động vòng quay thị trường - sản phẩm cho công nghiệp CNTT Việt Nam.

    3) Nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, hạ giá thành.

    4) Nâng cao mức độ tích tụ tài sản quốc gia, tạo sức tăng trưởng kinh tế lâu dài.

    Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, cần xây dựng một khung pháp lý vững chắc, tránh việc bị "tuýt còi" giữa chừng khi thị trường kinh doanh TSTT bắt đầu nhộn nhịp. Với hệ thống văn bản pháp lý cần thiết đi kèm, mô hình này có thể trở thành một biện pháp đột phá để xây dựng công nghiệp CNTT Việt Nam. 


                                                                            Hình 3

    Lệnh Lỗi Dương

    ID: B0603_19