• Thứ Năm, 06/04/2006 09:23 (GMT+7)

    Chính phủ điện tử: Nhân tố quyết định thành công

    Trong hai phần trước, chúng ta đã đề cập đến các xu hướng, thách thức và cơ hội cho triển khai chính phủ điện tử (CPĐT) ở Việt Nam. Trong phần này, chúng ta nghiên cứu các chiến lược liên quan tới CPĐT bao gồm các bài học và yếu tố thành công trong xây dựng CPĐT.


    Trong hai phần trước, chúng ta đã đề cập đến các xu hướng, thách thức và cơ hội cho triển khai chính phủ điện tử (CPĐT) ở Việt Nam. Trong phần này, chúng ta nghiên cứu các chiến lược liên quan tới CPĐT bao gồm các bài học và yếu tố thành công trong xây dựng CPĐT.


    Về cơ bản, các nước đang phát triển (CNĐPT) thường gặp khó khăn trong xác định chiến lược, hợp tác và triển khai CPĐT, do các bộ, cơ quan (CQ) nhà nước (NN) thường làm việc quan liêu và chỉ tập trung vào chức năng riêng của mình. Cần phải có sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành để điều hành CPĐT. Trong đó các bộ - được quản lý bởi một lãnh đạo NN cấp cao có tầm nhìn chiến lược - chịu trách nhiệm về tài chính, nguồn nhân lực, kỹ thuật và trị sự. Sự lãnh đạo quyết đoán, phối hợp nhịp nhàng và vai trò rõ ràng đi kèm với trách nhiệm là những yếu tố quan trọng để vượt qua thách thức trong triển khai CPĐT.

    NHỮNG BÀI HỌC CỦA CPĐT

    Với CNĐPT, CPĐT là cả một hành trình học hỏi và hoàn thiện, vượt qua nhiều trở ngại. Nhiều quốc gia đã đi trước Việt Nam về CPĐT và để lại nhiều bài học kinh nghiệm.

    Thứ nhất, CPĐT không đơn thuần là tin học hóa (informatize hay computerize) hoạt động của CP mà phải tổ chức lại CP. CP các nước không thể tiến bộ chỉ nhờ vào tự động hóa hay tin học hóa mà còn cần cải tiến quy trình nghiệp vụ, chính sách của CP và thủ tục hành chính. Thứ hai, sáng kiến của CP phải tập trung vào những dự án phục vụ người dân và một khi đã thử nghiệm thành công , nên triển khai nhanh chóng. Các dự án phải có giá trị thực tế và có thể nhân rộng. Chiến lược, các nguồn lực và sự sẵn sàng của các tổ chức cũng đóng vai trò then chốt.

    Các nước đang triển khai CPĐT hiểu rõ họ tiết kiệm được chi phí nhờ chương trình CPĐT. Chẳng hạn ở Canada, lệ phí mỗi lần giao dịch trực tuyến không tới 1 đô la Canada, trong khi giao dịch tại quầy phải mất 44 đô la Canada/người. Rất nhiều quốc gia như Anh, Singapore cũng có chương trình khuyến khích sử dụng dịch vụ CPĐT. Lợi ích mà CPĐT mang lại là giúp CP cải thiện chất lượng dịch vụ, vận hành qui trình hiệu quả hơn và đẩy mạnh tính minh bạch.  Hướng tiếp cận đầu tiên là thông qua các đối tác trung gian như ngân hàng, bưu điện để khuyến khích dịch vụ CPĐT. Tiếp theo, sẽ tận dụng các kỹ thuật marketing truyền thống như đài truyền hình, đài phát thanh và các phương tiện truyền thông, quảng cáo để tuyên truyền và khuyến khích người dân đến với dịch vụ CPĐT.

    NHỮNG CHIẾN LƯỢC KHẢ THI CPĐT

    Theo quan điểm của tôi, dưới đây là một số chiến lược mà Việt Nam và CNĐPT trong khu vực có thể cân nhắc về CPĐT.

    Xây dựng nền tảng cho CPĐT

    Cần thiết lập một Ủy Ban Định Hướng CPĐT- bao gồm các bộ chủ chốt. Ủy Ban này được định hướng bởi một tầm nhìn toàn cảnh về CPĐT và những nguyên tắc cơ bản. Dựa vào đó, các bộ và CQ dưới bộ sẽ hình thành hoạt động và kế hoạch riêng. Để nhận thức đúng về CPĐT, cần phải có một hệ thống kiến thức nhất quán để tiếp cận và định nghĩa CPĐT trong quá trình truyền thông giữa các bộ và cơ quan dưới bộ. Ngoài ra, còn cần xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT) hỗ trợ truy cập Internet và xóa mù tin học; nên phát triển ở khu vực nông thôn; thành phố dĩ nhiên luôn phát triển hơn.

    Phát triển năng lực của CP

    Cần phát triển năng lực cho các quan chức và nhân viên CP về CPĐT, hoạch định chiến lược CNTT - TT và giáo dục CNTT - TT. Hệ thống CP nội bộ, còn gọi là G2G (Goverment to Government), cần có kế hoạch cụ thể. Hệ thống các trang web cung cấp thông tin thời gian nghỉ phép, lời nhận xét và thông tin về nhân sự... (thuộc hệ thống G2E, G to Employee) có thể giúp hỗ trợ công chức trong công việc hàng ngày. Ngoài ra cần phát triển CSHT điện tử chung để hỗ trợ trao đổi thông tin và hợp tác.

    Đẩy mạnh dịch vụ công (DVC)

    Một chiến lược quan trọng khác trong XD CPĐT là đẩy mạnh các DVC. Chiến lược này bao gồm việc cung cấp các dịch vụ điện tử (DVĐT) trực tuyến tiềm năng tới người dân và DN, cũng như XD hệ thống CNTT - TT hỗ trợ CP cung cấp DVC. Nên triển khai trước những DVC có nhu cầu cao trong các thành phố.

    Cải thiện quản lý CNTT - TT

    Ở nhiều nước, quản lý CNTT - TT đã trở thành suy nghĩ nghiêm túc trong CPĐT. Điều quan trọng là kiến trúc công nghệ chung cho CSHT và sự thống nhất giữa các hệ thống CNTT - TT của CP. Các tiêu chuẩn về CNTT - TT để hỗ trợ hoạt động của các bộ và CQ CP cũng cần đưa ra để hỗ trợ CPĐT hiệu quả hơn. Tại VN, nhận thức về vai trò của lãnh đạo CNTT (Chief Information Oficer – CIO) cũng cần quan tâm. Hơn thế, công nghệ không nên bị coi vai trò thứ yếu nữa, mà phải được nhìn nhận là một phần công tác quản trị của CP.

    NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY

    Sự cam kết và định hướng của lãnh đạo

    Phải có sự chỉ đạo "quyết liệt" của lãnh đạo nhiều cấp để hỗ trợ kế hoạch CPĐT và các chương trình ở tất cả các cấp của CP. Các bộ phận hoặc CQ cần phối hợp tốt với tất cả các chương trình trong các bộ, CQ cũng như có sự cam kết ở các tỉnh, thành phố. Lãnh đạo cần phải hỗ trợ và ủng hộ tuyệt đối, đặc biệt ở cấp quản lý và thanh tra-giám sát. Các quan chức lãnh đạo CP phải đi đầu để làm gương.

    Sự hợp tác liên ngành

    Hợp tác giữa các CQ là một trong những yếu tố thành công khi triển khai các chương trình CPĐT. Một ví dụ phổ biến như để hỗ trợ hệ thống thương mại phi giấy tờ trong xuất nhập khẩu hàng hóa, cần có sự hợp tác mật thiết giữa Bộ Thương Mại, Hải Quan cũng như các CQ chức năng khác. Cần có đường lối mở và hợp tác xuyên suốt trong tầm nhìn CPĐT để tránh nạn "cát cứ thông tin" hay "phép vua thua lệ làng".

    Quan hệ đối tác công - tư

    Quan hệ đối tác giữa các ngành, các cơ sở giáo dục và các CQ CP là cơ sở nhằm thu hút chấm xám và công nghệ vào trong nước để hỗ trợ CPĐT. Các lĩnh vực tiềm năng bao gồm: DVĐT, hệ thống CNTT - TT và giáo dục. NN có thể ký các bản ghi nhớ (MOU) để mời các hãng công nghệ nước ngoài vào Việt Nam cùng những chương trình công nghệ mới. Mối quan hệ đối tác công - tư (Public- Private Partnerships - PPP) có thể hình thành nên các liên minh hợp tác trong những mảng công việc chuyên biệt hay dự án hỗ trợ và định hướng. Vì thế, tuy khái niệm PPP vẫn khá mới ở Việt Nam nhưng nó có nhiều tiềm năng thúc đẩy CPĐT.

    Nhận thức của công chúng, DN và giới truyền thông

    Công chúng, DN và giới truyền thông nên tin tưởng và ủng hộ sáng kiến về CPĐT. Đây là nơi CP phải tạo ra nhận thức về CPĐT, đặc biệt là về DVĐT và các sáng kiến. CP nên xem xét cẩn thận lợi ích tiềm năng. Bất kỳ sự trì hoãn hoặc giao tiếp không hiệu quả có thể làm giảm sút niềm tin của cộng đồng vào các lợi ích tiềm năng của sáng kiến, dẫn việc người dân tham gia vào sáng kiến này giảm đi. Ngoài ra, cần đào tạo và phát triển đội ngũ chuyên viên CPĐT, những "đầy tớ nhân dân", để tăng năng lực CPĐT và CNTT - TT. Đây là một trong những vấn đề mà CP thường bỏ qua khi bắt tay vào triển khai CPĐT do chỉ chủ yếu tập trung vào các dự án CNTT - TT.

    Tiến tới CPĐT ở Việt Nam

    Triển khai CPĐT phải cân nhắc việc hiện đại hóa và cải cách hành chính CP. Việc phân định rõ ràng quyền và trách nhiệm của từng ban ngành trong CP để tránh sự chồng chéo là một trong những cải cách. Cần cải cách để loại bỏ các thói quen làm việc và tư tưởng cố hữu trong quan chức CP.

    CP phải chủ động tích cực tiếp nhận phản hồi của công dân và DN. Những chủ thể này cũng cần tích cực hơn, chủ động gợi ý, giới thiệu để củng cố DVC và quản trị của CP.

    Curthbert Shepherdson
    Thu Nga (biên dịch)

    ID: B0604_13