• Thứ Năm, 06/04/2006 09:22 (GMT+7)

    Sự cần thiết của kiến trúc thông tin quốc gia

    Kiến trúc thông tin quốc gia cũng như bản thiết kế của một công trình xây dựng, nó đảm bảo tính phối hợp giữa các phần khác nhau của “ngôi nhà CNTT” Việt Nam.

    Kiến trúc thông tin quốc gia cũng như bản thiết kế của một công trình xây dựng, nó đảm bảo tính phối hợp giữa các phần khác nhau của "ngôi nhà CNTT" Việt Nam.

    Thiếu chuẩn bị hoạch định hệ thống

    CNTT và truyền thông (CNTT-TT) là một lĩnh vực mang tính hệ thống rất cao, các dự án đều liên hệ chặt chẽ với nhau, lại có nhiều ràng buộc và tương tác với các thiết chế xã hội khác. Do đó, xây dựng và triển khai các dự án CNTT-TT thường vấp phải những vấn đề kỹ thuật và xã hội hết sức đa dạng. Trong các số báo trước, các tác giả đã thảo luận về việc thiếu cơ chế tài chính đặc thù gây ra bế tắc trong việc triển khai các dự án ứng dụng và phát triển CNTT-TT [1-2]. Điều đó thể hiện sự thiếu chuẩn bị về môi trường chính sách để khâu hoạch định mang tính hệ thống ở tầm quốc gia. Thực ra, sự thiếu chuẩn bị về hoạch định hệ thống còn thể hiện trong việc xây dựng và lựa chọn các dự án, phối hợp và xác định thứ tự ưu tiên trong triển khai.

    Các dự án CNTT-TT đều khó triển khai và mang tính rủi ro cao. Trên thế giới, người ta nhận thấy chỉ có 25% số các dự án đầu tư cho ứng dụng chính phủ điện tử (CPĐT) là thành công mỹ mãn, còn lại chỉ đạt được một phần kỳ vọng, thậm chí thất bại hoàn toàn. Do các hệ thống thông tin phải đảm bảo có tính tích hợp, người ta có thể coi việc xây dựng các dự án CNTT-TT trong phạm vi một quốc gia giống như các công đoạn xây dựng một ngôi nhà và cần phải có một bản thiết kế tổng thể. Trong bản thiết kế này, mọi chi tiết và các giai đoạn triển khai đều được tính toán sao cho phù hợp: mái nhà không thể làm trước khi đặt nền, cửa sổ không được lớn hơn tường...

    Kiến trúc CNTT cho quốc gia và doanh nghiệp

    Vì các lý do nói trên, năm 2002, Phòng Quản Trị Ngân Sách thuộc Văn Phòng Tổng Thống Mỹ đã ra lệnh xây dựng và triển khai kiến trúc CNTT (ITA). Kiến trúc này nhằm mục tiêu: Xác định khả năng nâng cấp công nghệ, loại trừ trùng chéo, lãng phí, để nâng hiệu quả đầu tư; tạo khả năng các nguồn lực CNTT theo chiều ngang ( liên bộ ngành) và tích hợp chiều dọc (từ Trung ương tới địa phương); ứng dụng các hoạt động thực tiễn về kiến trúc làm động lực cải thiện việc quản lý công việc trong các cơ quan nhà nuớc; hỗ trợ cho CPĐT.

    Tầm quan trọng của ITA đã nhanh chóng được các nhiều quốc gia và các tổ chức tư vấn trên thế giới nhìn nhận. Tổ chức tư vấn Gartner xem đây là yếu tố quyết định thành công trong triển khai CPĐT và các ứng dụng CNTT khác. Hàn Quốc, tuy đã tuyên bố hoàn tất thành công giai đoạn 1 của CPĐT, nhưng cho rằng do chưa có ITA nên giai đoạn này có những khuyết điểm và họ quyết tâm đưa việc xây dựng và triển khai ITA thành trọng tâm trong giai đoạn 2.

    Với các ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp, các công ty hàng đầu như Microsoft, IBM, Oracle, HP... cũng đã nhận ra tầm quan trọng của ITA trong việc cung cấp các giải pháp tiết kiệm đầu tư, nâng cao tính tích hợp và hướng tới việc cung cấp dịch vụ thông tin như "Kiến trúc hướng dịch vụ” ( SOA). Diễn Đàn Quản Trị Viễn Thông TMF cũng đi theo hướng phát triển kiến trúc cho các hệ thống viễn thông của các nhà cung cấp dịch vụ và phát triển "Bản đồ tác nghiệp viễn thông tăng cường" (ETOM- Enhanced Telecom Operations Map). ITA đang trở thành một trào lưu trên thế giới.

    Công cụ điều phối, quản lý hiệu quả

    Ở Việt Nam hiện nay, trong các kế hoạch, chiến lược được Thủ Tướng phê duyệt đã có gần 90 dự án. Các dự án này đều rất quan trọng và phải thực hiện. Tuy nhiên, cần rà soát, xây dựng cơ chế lồng ghép để tránh trùng lắp và làm rõ một số vấn đề, chẳng hạn: Quan hệ giữa các dự án đó ra sao, cần những điều kiện gì để thực hiện và thực hiện theo một lịch trình thế nào? Trong tương lai, các dự án triển khai ở địa phương có thể tích hợp với các dự án ở cấp trung ương để cung cấp cho người dân thông qua một cổng dịch vụ duy nhất hay không? Đầu tư theo xu hướng tự phát hiện nay có hiệu quả hay không? Những ách tắc cần được bắt đầu gỡ rối ở những khâu nào, cần có những công cụ pháp lý nào... Hiện nay hoàn toàn không có hệ thống nguyên tắc để trả lời các câu hỏi này.

    Như thế, việc có một ITA của Việt Nam (VNITA) đang là một nhiệm vụ hết sức cần thiết. Trong thời gian vừa qua, rõ ràng việc xây dựng các hệ thống ứng dụng CNTT-TT ở Việt Nam còn thiếu hiệu quả, chưa có một sự phối hợp và tập trung nguồn lực. Do đó, các hệ thống thông tin đang còn biệt lập, chưa trở thành một hệ thống thống nhất và không có hướng dẫn để xây dựng và triển khai các dự án về CNTT-TT, một số hệ thống đã đầu tư khi đưa vào sử dụng vấp phải nhiều khó khăn do chưa hội tụ đủ các điều kiện cần thiết.

    Trong "Chương trình trọng điểm quốc gia về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin giai đoạn 2006-2010", nội dung "xây dựng và triển khai kiến trúc thông tin quốc gia" đã trở thành dự án đột phá có vai trò tiêu điểm cho các dự án ứng dụng CNTT-TT trong giai đoạn tới. Nhận thức về tầm quan trọng của VNITA có thể tạo những bước phát triển mới cho ngành CNTT-TT ở Việt Nam.

    Những nội dung chủ yếu của VNITA

    Với tư cách là kiến trúc thông tin quốc gia, VNITA chứa đựng nhiều nội dung hơn là bản thân thuật ngữ này có thể gợi ra. Nó không chỉ bao gồm kiến trúc hệ thống thông tin chủ yếu mang tính kỹ thuật hay thiết kế hệ thống quen thuộc. Việc xác định các thành phần của VNITA còn đòi hỏi rất nhiều công sức nghiên cứu điều tra.

    Theo nghiên cứu bước đầu, một số chuyên gia đề nghị VNITA trước hết phải là một bản thiết kế cơ sở cho việc ứng dụng và phát triển CNTT-TT, bao gồm các thành phần cơ bản, chức năng, dòng trao đổi thông tin và dữ liệu, các yêu cầu về tính phù hợp, về hiệu năng, tính phối hợp và các hướng dẫn triển khai. Do tính phối hợp sẽ được thực hiện thông qua tương tác liên bộ, ngành từ trung ương đến địa phương, VNITA còn phải cung cấp một khung cho các bộ, ngành, địa phương xây dựng kiến trúc chi tiết cho đơn vị mình và khung pháp lý đảm bảo tính phối hợp, kể cả chia sẻ thông tin, các quy trình chuẩn để triển khai các hệ thống thông tin và yêu cầu cung cấp các giao diện chuẩn để tích hợp hệ thống.

    VNITA sẽ được phân thành các lớp kiến trúc: 1) Lớp hạ tầng: bao gồm các kiến trúc hạ tầng truyền thông, hạ tầng an toàn an ninh, hạ tầng pháp lý. Các kiến trúc hạ tầng này đều sẽ bị ảnh hưởng bởi các kiến trúc khác có liên quan. Kiến trúc hạ tầng pháp lý sẽ tương tác với hệ thống luật pháp, đặc biệt là với luật CNTT và giao dịch điện tử. Kiến trúc hạ tầng truyền thông và hạ tầng an ninh sẽ chịu ảnh hưởng của kiến trúc và chuẩn truy cập. 2) Lớp kiến trúc cơ sở dữ liệu sẽ chịu ảnh hưởng bởi các kiến trúc về chuẩn dữ liệu và truy cập. 3) Lớp kiến trúc nền dùng chung và middleware sẽ chịu ảnh hưởng của kiến trúc về chuẩn chia sẻ thông tin và công nghệ. 4) Lớp kiến trúc ứng dụng sẽ chịu ảnh hưởng bởi kiến trúc tác nghiệp và kiến trúc giao diện người sử dụng. Kiến trúc giao diện người sử dụng và kiến trúc truy cập lại chịu ảnh hưởng của kiến trúc về nguồn nhân lực.

    Như vậy, VNITA sẽ mang lại một hệ thống thống nhất, có chất lượng và độ tin cậy cao, tiết kiệm thời gian và nguồn lực, có hiệu năng sử dụng cao, đảm bảo tính phối hợp và tập trung nguồn lực trên phạm vi quốc gia. VNITA cũng là cơ sở cho việc hoạch định và triển khai một cách có hệ thống các dự án ứng dụng CNTT-TT tiến tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

    [1]: Lệnh Lỗi Dương, "Dự án ứng dụng CNTT: Vì sao bế tắc?", TGVT - PCW B tháng 1/2006, trang 26.

    [2]: Hoàng Lê Minh, "Quản lý dự án CNTT nên theo cách nào?", TGVT - PCW B tháng 2/2006, trang 12.

    Lệnh Lỗi Dương

    ID: B0604_15