• Thứ Ba, 25/04/2006 12:15 (GMT+7)

    Đề Án 112: thành tích và khuyết điểm

    Kết quả đạt được rất đáng kể, nhưng những việc chưa làm được cũng không phải nhỏ. Đó là nhận xét của nhiều đại biểu tham dự hội nghị “Tham gia ý kiến về báo cáo tổng kết Đề Án 112 giai đoạn I (2001-2005)” ngày 21/4/2006 tại Hải Phòng.

    Ban Điều Hành 112 tự xét

    Trong dự thảo báo cáo tổng kết giai đoạn I, Ban Điều Hành Đề Án 112 (BĐH 112) tự đánh giá chung về những việc làm được như sau: Tạo ra một phương thức làm việc mới có sử dụng CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN), nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ công chức NN. Xây dựng được cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ tin học hóa quản lý HCNN, bước đầu hình thành hệ thống thông tin (HTTT) điện tử của Chính Phủ, đã bắt đầu đưa vào vận hành các dịch vụ cơ bản, thư điện tử, các phần mềm (PM) ứng dụng tin học hóa quản lý HCNN. Hình thành hệ thống tổ chức quản lý, điều hành thực hiện Đề Án (ĐA) 112 từ trung ương đến địa phương. Nâng cao một bước đáng kể trình độ quản trị mạng của đội ngũ tin học chuyên trách và kỹ năng sử dụng mạng, cập nhật – khai thác- quản lý các HTTT điện tử của đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp…

    Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh Lào Cai
     

    Về những mặt chưa làm được, báo cáo đánh giá: Chưa triển khai được mạng trục truyền số liệu của Đảng và Chính Phủ. Dự án về an toàn bảo mật thông tin cho HTTT của Chính Phủ triển khai chậm, bị kéo dài. Các dự án cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia mới xong giai đoạn I. Đội ngũ cán bộ quản lý HTTT điện tử còn thiếu kinh nghiệm, chưa đủ mạnh mặc dù đã được đào tạo; chưa ban hành quy chế về tổ chức các đơn vị tin học chuyên trách phục vụ công tác tin học hóa quản lý HCNN; chưa quy định tiêu chuẩn, chức danh cán bộ tin học làm việc trong cơ quan HCNN. Việc vận hành HTTT điện tử còn nhiều bất cập giữa năng lực sử dụng CNTT với yêu cầu của hệ thống tin học, do đó còn phải tiếp tục huấn luyện, hỗ trợ vận hành và ban hành nhiều quy chế, quy trình mới có HTTT điện tử với đầu đủ số liệu điều hành thực sự.

     

    Ngoài ra, báo cáo này còn nhấn mạnh: “Tin học hóa quản lý HCNN – cải cách hành chính – chính phủ điện tử là một tổng thể thống nhất, không tách rời; tin học hóa quản lý HCNN giai đoạn I chính là giai đoạn thuộc lộ trình xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam.

       

    Ý kiến các tỉnh

    Đa số văn phòng UBND các tỉnh đồng ý với phần đánh giá về những việc làm được của BĐH 112. Một số ý kiến cho rằng cần nhấn mạnh ĐA 112 đã tạo bước ngoặt về hạ tầng CNTT phục vụ tin học hóa quản lý HCNN, chuyển từ sử dụng máy tính đơn lẻ sang sử dụng mạng máy tính; thay đổi cơ bản nhận thức của toàn thể cán bộ, viên chức những cơ quan đã tham gia chương trình; xây dựng và đào tạo được đội ngũ nhân lực đáp ứng nhu cầu tin học hóa; tạo ra phong cách, văn hóa làm việc mới. Các Trung tâm THDL là cần thiết và đã mang lại hiệu quả ở một số nơi (ví dụ Thanh Hóa). Cần hiểu rằng TTTDL không phải chỉ tích hợp trong một ngày. Đó là một quá trình.

     

    Ông Phạm Văn Hoàn, chánh Văn Phòng UBND tỉnh Hải Dương nhận định: “Không thể hình dung được nếu không có mạng, không có máy tính thì chúng ta làm việc như thế nào. Mặc dù chúng ta chưa có CPĐT, nhưng chúng ta cũng đã có những kết quả bước đầu”. Đại biểu ở Quảng Trị còn cho rằng chỉ trong vòng 4 năm mà ĐA 112 làm được khối lượng công việc như thế là rất lớn, là phát triển “như vũ bão”.

     

    Tuy nhiên, cũng có kiến cho rằng, trong phần kết quả đạt được, báo cáo cần nêu rõ vai trò của BĐH 112 và của các bộ, ngành, các địa phương. Ngoài BĐH 112, sự đóng góp của UBND các tỉnh cũng rất lớn.

     

    Về phần “Một số việc chưa hoàn thành” trong báo cáo, ông Hoàn cho rằng nên nêu cả những khuyết điểm, nhược điểm của giai đoạn I. Chẳng hạn, việc triển khai xây dựng phần mềm ban đầu còn lúng túng, hơn một năm đầu còn phải bàn cãi về quy chế, quy trình xây dựng phần mềm. Quá trình triển khai cũng lúng túng, hiệu quả triển khai chưa cao. Việc phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong xây dựng phần mềm cũng chưa chặt chẽ. Vấn đề giải ngân kinh phí hàng năm còn vướng mắc, đến nay vẫn dùng một số định mức từ năm 97, nhiều định mức không tương xứng với nhu cầu.

     

    Theo đại biểu tỉnh Thanh Hóa, ĐA 112 còn nhiều mục tiêu chưa đạt được, như các dịch vụ công, CSDL chuyên ngành, các phân hệ điều hành tác nghiệp triển khai cũng chưa đồng đều. Việc triển khai đầu tư hạ tầng chưa đồng bộ. Dự án đường trục nhiều năm vẫn chưa làm được gây khó khăn cho việc triển khai HTTT. Các CSDL triển khai không tập trung, phân tán. Ví dụ, việc xây dựng CSDL cán bộ công chức không khó, nhưng gần đây mới nhập dữ liệu. CSDL về công báo rất cần cho các xã, huyện nhưng chưa triển khai. Chưa có sự đồng đều trong triển khai giữa các địa phương và các ngành. Cơ chế triển khai xây dựng các phần mềm còn lúng túng cả về mặt pháp lý lẫn chuẩn thông tin. Các công ty viết phần mềm lại không triển khai phần mềm, do đó chưa tạo ra trách nhiệm lớn. BĐH cũng bị động về tiến độ. Có thời kỳ làm rất chậm, nhưng về sau lại ép tiến độ quá, không theo quy trình tự nhiên, đốt cháy giai đoạn, sinh ra những khó khăn.

     

    Một đại biểu khác cho rằng quan hệ giữa các đơn vị tư vấn với BĐH chưa rõ. Thực tế, tư vấn chỉ biết “cài và đặt”. Trong nhiều cơ quan đơn vị đã sử dụng hệ thống, khâu trình công văn, hồ sơ cho chủ tịch, phó chủ tịch vẫn phải dùng phiếu báo giấy. Tuy nhiên, khi sử dụng PM thì không có công đoạn in ra phiếu báo, và như thế tức là ách tắc. Trong trường hợp này địa phương nhờ đến tư vấn. Nhưng các nhà tư vấn thì đưa ra một lý do đơn giản là PM có bản quyền thuộc về BĐH rồi, họ không được vi phạm, và cũng không có chi phí để sửa. Một số đơn vị phát triển phần mềm không có đủ lực phải thuê một số đơn vị tư vấn khác triển khai lắp đặt cho các đơn vị, các tỉnh, ngành. Những đơn vị này làm thuê nên không am hiểu về hệ thống, chỉ biết “cài và đặt”, trách nhiệm không cao. Cơ chế tiếp thu, cải tiến tạo ra những phiên bản PM mới cho phù hợp hơn cũng chưa rõ, không biết có hay không.

    Hiện nay ĐA 112 có 34 phần mềm dùng chung (PMDC), đã triển khai 3. Còn 30 PMDC còn lại chưa rõ bao giờ được triển khai. Do yêu cầu tin học hóa quản lý HCNN nhanh, nhiều tỉnh phải tự đặt hàng hoặc tự làm PM. Nếu đến khi làm xong, cài đặt xong và vận hành rồi mới có PMDC thì các tỉnh đó sẽ rất lúng túng, gặp khó khăn về tư tưởng, về trình độ khi chuyển sang một hệ thống mới (mà chưa chắc đã tốt hơn hệ thống cũ)…

     

    Theo đại biểu tỉnh Quảng Trị, việc triển khai ĐA 112 có những sai sót hay khuyết điểm là đương nhiên vì đây là việc rất mới, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Đại biểu tỉnh Thanh Hóa, ông Nguyễn Đình Xứng (phó chánh Văn Phòng UBND tỉnh) thì vạch ra một số nguyên nhân. Nguyên nhân khách quan là ĐA 112 phụ thuộc rất nhiều vào việc cải cách hành chính. Mà chương trình cải cách hành chính của CP cũng đang tiến hành chậm, quy trình hành chính chưa chuẩn hóa, thói quen, tác phong làm việc chưa đổi mới. Nguyên nhân chủ quan: Mục tiêu đề ra là quá lớn, vượt qua khả năng của nền hành chính, khả năng về trình độ CNTT của cả nước, khả năng của nguồn nhân lực. Chẳng hạn, đưa ra mục tiêu về các dịch vụ công là không khả thi vì các điều kiện về pháp lý, công nghệ chưa đủ. VPCP và các bộ, ngành

    Ông Lương Cao Sơn khẳng định đề án 112 "không phải là một đề án thất bại".
    chưa thật sự vào cuộc. Thêm nữa, nhiều vấn đề không thống nhất ngay trong VPCP và giữa các bộ ngành. Bộ máy điều hành ĐA 112 còn bất cập, cả về tổ chức bộ máy, cả về số lượng, chất lượng cán bộ, cả về cơ chế vận hành. Ví dụ tổ chức bộ máy thì phải có các tổ chuyên môn, thế nhưng các tổ chuyên môn toàn là cán bộ bán chuyên trách (cơ chế trách nhiệm không thể tốt). Một ĐA rất lớn, nhưng số lượng cán bộ rất mỏng. Điều đó cho thấy cách nhìn nhận vấn đề không tương thích, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Giai đoạn sau cần tăng cường để trở thành tổ chức có đủ thẩm quyền và năng lực thực hiện.

     

    Làm tiếp hay không?

    Trong hội nghị, đã có người đề cập đến việc có tiếp tục tiến hành giai đoạn 2 của ĐA 112 hay không. Tuy nhiên, hầu hết khẳng định là cần làm tiếp. Có người còn nói nếu không làm tiếp thì thấy hoang mang. Ông Lương Cao Sơn, thư ký BĐH 112 nói: “Đây không phải là một ĐA thất bại, nên việc đặt vấn đề có làm tiếp hay không là không cần thiết”.

    Về nhiệm vụ của ĐA trong thời gian tới, đại biểu Hải Dương yêu cầu lập một đề án cụ thể cho giai đoạn 2006-2010. Đại biểu Thanh Hóa đề nghị nên xác định nhiệm vụ trọng tâm trong từng khoảng thời gian. Ví dụ năm 2006-2007 xác định trọng tâm là vận hành HTTT tác nghiệp. Đến 2008-2010 mới nên triển khai dịch vụ công. Cần làm sớm mạng diện rộng cho các địa phương. Tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo. Một số đại biểu khác đề nghị không nên dàn trải mà cần tập trung xây dựng những mô hình điểm thật thành công, sau đó nhân rộng.

     

    Vũ Long

    ID: O0604_1