• Thứ Hai, 31/07/2006 11:26 (GMT+7)

    Giai đoạn 2006 - 2010: Bàn về Đề Án 112

    Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) là việc bắt buộc phải làm, không chỉ trong vài năm mà nhiều chục năm. Nếu tính về độ phức tạp thì đây là lĩnh vực khó nhất. Vì vậy, hoàn toàn có thể hiểu vì sao Đề Án 112 giai đoạn 2001 - 2005 chưa đạt những mục tiêu đặt ra cho năm 2005. Bài viết sau là ý kiến đóng góp cho Đề Án 112 trong giai đoạn 2006 - 2010.

    Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) là việc bắt buộc phải làm, không chỉ trong vài năm mà nhiều chục năm. Nếu tính về độ phức tạp thì đây là lĩnh vực khó nhất. Vì vậy, hoàn toàn có thể hiểu vì sao Đề Án 112 giai đoạn 2001 - 2005 chưa đạt những mục tiêu đặt ra cho năm 2005. Bài viết sau là ý kiến đóng góp cho Đề Án 112 trong giai đoạn 2006 - 2010.

    Ứng dụng và phát triển CNTT chỉ có một mục đích duy nhất là dùng CNTT làm phương tiện để chuyển dần từ phương thức tổ chức và xử lý thông tin thủ công (trên giấy) trong xã hội sang phương thức tổ chức và xử lý thông tin số (trên máy tính). Dạng thức tổ chức, lưu trữ thông tin thay đổi kéo theo sự thay đổi về cách thức xử lý thông tin. Như vậy, trung tâm của mọi vấn đề nằm ở thông tin (nội dung) chứ không phải ở cách xử lý nó, tức phần mềm (PM). Từ đây có thể thấy trong tin học hoá QLHCNN, việc xây dựng tập hợp các "dữ liệu dùng chung" quan trọng hơn rất nhiều so với việc xây dựng "PM dùng chung". Hơn nữa, dữ liệu là cái tồn tại lâu dài (nó được cập nhật thường xuyên nhưng tên gọi và ý nghĩa không đổi) trong khi PM (quy tắc xử lý dữ liệu) lại thay đổi theo sự phát triển của bộ máy QL.

       

    Ở đầu mỗi giai đoạn, các nhà lập kế hoạch thường có xu hướng đề ra những mục tiêu cao hơn, hoành tráng hơn so với giai đoạn trước. Trong khi đó, nhiệm vụ hiện đại hoá nền QL của nước ta từ điểm xuất phát hiện nay tiến đến một nền QL điện tử tiên tiến cần có một hệ thống lý luận riêng. Nếu không sẽ rơi vào cảm tính.

     

    Như vậy, trục phát triển chính của ứng dụng CNTT trong hiện đại hóa QLHCNN là tổ chức thông tin QLNN. Xoay quanh trục đó là những điều kiện cần và đủ để bộ máy nhà nước có thể vận hành trong môi trường thông tin được tổ chức lại đó: Khung pháp lý; Hạ tầng kỹ thuật;

    Nguồn nhân lực. Tóm lại, có 4 việc chính phải làm trong ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hóa QLHCNN là:

    - Tổ chức thông tin QLNN trên mạng máy tính.

    - Xây dựng khung pháp lý cho việc ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hóa QLHCNN.

    - Xây dựng hạ tầng kỹ thuật làm nền tảng vận hành hệ thống thông tin (HTTT) QLNN.

    - Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực làm chủ HTTT đó.

    Chúng ta sẽ lần lượt tiếp cận 4 nội dung chính nêu trên.

    Tổ chức thông tin

     

    Khảo sát gần đây trên 500 cán bộ QLNN cấp sở và huyện ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với câu hỏi "Anh/chị hiểu thế nào là CPĐT?" cho kết quả có 95% câu trả lời là "không rõ lắm". Rõ ràng, nếu người trong cuộc không rõ mục tiêu của ứng dụng CNTT thì thiếu sót nằm ở khâu đào tạo.

       

    Đích đến cuối cùng là xây dựng HTTT QLNN trên mạng máy tính của bộ máy chính quyền, có khả năng cung cấp tối thiểu 70% lượng thông tin cần thiết phục vụ cho hoạt động hàng ngày của các cơ quan thuộc bộ máy chính quyền cả nước. Để làm được việc đó, nhiều quốc gia phải dự trù kế hoạch 20 – 25 năm. Chúng ta cũng không nên duy ý chí đến mức xem việc đó có thể làm được trong 5 năm! Theo chúng tôi, trong giai đoạn 2006 – 2010 nên tập trung vào phần lõi là xây dựng tập các thông tin QLNN dùng chung. Văn bản pháp quy là ví dụ điển hình trong tập hợp các thông tin QLNN dùng chung, là khung pháp lý cho bộ máy chính quyền vận hành. Việc xác định danh mục thông tin QLNN dùng chung và quy định mức độ dùng chung không khó. Vấn đề là phải tổ chức thông tin dùng chung sao cho tất cả các cán bộ trong bộ máy chính quyền trong cả nước khi cần có thể tìm kiếm, sử dụng một cách nhanh chóng, dễ dàng và nhất quán; phải quy định rõ ai có trách nhiệm cập nhật và mẫu chung về giao diện thể hiện .

    Có hai lớp thông tin dùng chung: lớp trung ương do Trung Ương Đảng, Quốc Hội, Chính Phủ và các Bộ, ngành ở trung ương tạo ra; Lớp địa phương do Thành/Tỉnh Ủy, HĐND, UBND và các Sở, ngành ở địa phương tạo ra. Để đáp ứng yêu cầu truy vấn thông tin thì phương án tốt nhất là tổ chức lớp thứ nhất tại trung tâm tích hợp dữ liệu (THDL) quốc gia, còn lớp thứ hai tổ chức tại các trung tâm THDL địa phương. Để đảm bảo tính nhất quán của thông tin cần áp dụng nguyên tắc "thông tin được phát sinh ở đâu thì do nơi đó cập nhật" và "giao diện thể hiện cùng một loại thông tin là duy nhất trong cả nước".

    Từ đây, khối lượng công việc chính cần làm được hình dung theo sơ đồ bên dưới. Với Đề Án 112, đây là công việc trọng tâm. Làm được việc này xem như hoàn thành 70% khối lượng công việc cần thực hiện. Hơn nữa, nội dung và tính chất của các CSDL dùng chung này sẽ quyết định kiến trúc của toàn bộ hệ thống thông tin QLNN.

    Xây dựng khung pháp lý

    Thông tin QLNN hiện nay (trên giấy) có một hệ thống quy định rõ ràng của Nhà Nước về các khía cạnh liên quan (nội dung, mẫu biểu, tính chất, phạm vi sử dụng…). Quá trình số hóa những thông tin này làm xuất hiện những tính chất mới và những vấn đề mới mà trước đây không có. Ví dụ: Thông tin QLNN có phạm vi phục vụ khác nhau nên sẽ cần có thêm quy định về quyền truy cập thông tin của các cán bộ công chức; cần quy định tính pháp lý của thông tin số hóa được xem xét đến đâu, chữ ký và con dấu điện tử được quy định sử dụng như thế nào? Ai có trách nhiệm và được phép cập nhật thông tin? Quy định về sử dụng thông tin QLNN trên mạng....

    Khi lượng thông tin QLNN lớn dần, nhu cầu khai thác tăng cao, cách tra cứu và xử lý thông tin thay đổi sẽ kéo theo việc bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý này. Cuối quá trình điện tử hoá, khung pháp lý mới sẽ thay thế hoàn toàn khung pháp lý làm việc với thông tin thủ công.

    Xây dựng hạ tầng kỹ thuật

       

    Giai đoạn 2006 - 2010 có một ý nghĩa trọng đại vì đó là giai đoạn hội nhập và phát triển, là cơ hội tăng tốc cho quá trình CNH, HĐH. Hy vọng không phải chờ đến cuối 2006 mới có Đề Án 112 mới cho cả giai đoạn 2006 - 2010 thay thế Đề Án của giai đoạn đã qua.

     

    Hạ tầng kỹ thuật của HTTT QLNN gồm 2 thành phần chính là mạng LAN ở các đơn vị và mạng WAN kết nối các mạng LAN ấy với nhau, tạo nên mạng máy tính thống nhất của bộ máy chính quyền. Nếu trong giai đoạn 2006 – 2010, nội dung chính của Đề Án 112 là xây dựng hệ thống CSDL QLNN dùng chung thì hạ tầng kỹ thuật chỉ cần xây dựng ở mức phù hợp với yêu cầu truy vấn thông tin là đủ. Yêu cầu đặt ra từ đầu là hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng nhu cầu truy vấn thông tin dùng chung. Như vậy, CSDL QLNN nằm ở mạng trục truyền thông cấp quốc gia và cấp địa phương. Mạng trục (backbone) đó được xây dựng riêng hay thuê của nhà cung cấp? Thực tế trong những năm gần đây cho thấy có địa phương tự xây dựng lấy, có địa phương thuê của nhà cung cấp (VNPT hay Viettel), cũng có địa phương không xây dựng và cũng không thuê của ai vì nhu cầu liên lạc, truy xuất thông tin chưa cao, kết nối dial-up cũng chấp nhận được. Tuy nhiên, muốn triển khai chính phủ điện tử (CPĐT) thì hạ tầng này chắc chắn phải có. Ở đa số các quốc gia lân cận, phương án thuê mạng trục của nhà cung cấp với những điều kiện riêng nghiêm ngặt để phục vụ nhà nước khá phổ biến. Phương án này chuyên nghiệp hơn so với xây dựng mạng trục riêng. Ở nước ta, hạ tầng này đã có sẵn, vấn đề là chính sách sử dụng nó để phục vụ cho hoạt động của bộ máy chính quyền ở cả 4 cấp như thế nào (băng thông, giá cả, trách nhiệm...).

    Đào tạo nguồn nhân lực

    Đề cập đến đào tạo nguồn nhân lực CNTT cho NN, người ta thường nghĩ đến việc tổ chức các lớp đào tạo CNTT cho cán bộ QL. Tuy nhiên, giáo trình các lớp học này khá giống với chương trình ở các trung tâm đào tạo chuyên về CNTT. Người ta đã yêu cầu quá cao đối với những nhà QL vốn không chuyên CNTT. Chính vì vậy, cần xem xét lại chương trình để cán bộ QLNN không phải học về chuyên ngành CNTT mà là các kiến thức và kỹ năng khai thác, sử dụng có hiệu quả HTTT QL.

    Về nhận thức, cần làm cho tất cả cán bộ công chức trong bộ máy chính quyền hiểu rõ khái niệm CPĐT, việc triển khai xây dựng CPĐT ở nước ta cụ thể là làm gì, vượt qua những khó khăn nào, đi qua những giai đoạn nào. Việc phổ cập kiến thức cơ bản về CPĐT nên được đặt làm nhiệm vụ chính trong đào tạo nhân lực CNTT trong bộ máy chính quyền giai đoạn 2006 -2010.

    Sơ đồ phương án tổ chức thông tin dùng chung

    Nguyên thảo

    ID: B0602_16