• Thứ Hai, 07/08/2006 11:28 (GMT+7)

    Năng lực phần mềm quốc gia: 8 cách xây dựng

    Cho đến nay, ba quốc gia có thành công nổi bật trong việc phát triển công nghiệp phần mềm (CNpPM) là Ấn Độ, Israel và Ireland đều có những phương thức riêng phù hợp với điều kiện của mình. Việt Nam nên đi theo con đường nào? Trong bài viết này, chúng tôi thử phân tích các bài học quốc tế về cách thức xây dựng năng lực PM quốc gia để tìm ra những biện pháp thực sự hiệu quả.

    Cho đến nay, ba quốc gia có thành công nổi bật trong việc phát triển công nghiệp phần mềm (CNpPM) là Ấn Độ, Israel và Ireland đều có những phương thức riêng phù hợp với điều kiện của mình. Việt Nam nên đi theo con đường nào? Trong bài viết này, chúng tôi thử phân tích các bài học quốc tế về cách thức xây dựng năng lực PM quốc gia để tìm ra những biện pháp thực sự hiệu quả.

    Theo báo cáo "Toàn cảnh công nghệ thông tin Việt Nam 2006" của Hội Tin Học TP. Hồ Chí Minh, sản lượng PM dịch vụ của VN năm 2005 đã tăng trên 40%, đạt 240 triệu USD. Mức tăng trưởng của ngành CNpPM trong mấy năm gần đây đều khả quan. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này dường như hoàn toàn do xu thế tự phát của thị trường. Để phát triển lâu dài, cần chú ý đến những chỉ tiêu khác phản ánh chính xác thực lực. Chúng ta rất hy vọng CNpPM sẽ phát triển nhưng phải thận trọng với triển vọng đó. Nhất là khi ảnh hưởng của các biện pháp chiến lược của Nhà Nước không hoàn toàn rõ nét.

    Năng lực PM quốc gia (NLPMQG) là tổng lượng PM mà một QG có thể xây dựng và bảo trì. NLPMQG là một nguồn lực giới hạn, cần phát triển có sách lược để cân bằng các mục tiêu ngắn và dài hạn. Chính vì thế, một con số khiêm tốn hay lạc quan trong hiện tại không thể nói gì trước về sự phát triển tương lai. Khi năng lực này dồi dào, cùng một chính sách phát triển thị trường bên ngoài và kích cầu tốt sẽ khiến cho thị trường phát triển nhảy vọt. Ngược lại, nếu NLPMQG còn hạn chế, các chính sách đó không giúp gì nhiều: dù cho có các đơn đặt hàng lớn từ bên ngoài, chúng ta cũng sẽ không đủ sức thực hiện. Một công trình gần đây [1] đã đưa ra nhận xét: hiện tại sản lượng PM thực ra chỉ mới phản ánh cơ hội mà thị trường có thể đem lại cho công nghệ PM VN. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để phát triển NLPMQG.

    Trong bối cảnh CNTT thay đổi rất nhanh, việc chọn một con đường đúng đắn phải dựa trên điều kiện, hoàn cảnh riêng của từng QG. Theo kinh nghiệm quốc tế [2] có 8 cách khác nhau xây dựng NLPMQG.

    1. Đầu tư ứng dụng CNTT nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan chính phủ và các chương trình xã hội:

    Đây thực sự là một biện pháp kích cầu. Nhà nước đóng vai trò là khách hàng lớn, tạo thị trường cho các doanh nghiệp (DN) PM. Thị trường trong nước là cơ hội tốt để nắm vững kỹ năng quản trị dự án lớn và phát triển công nghệ mới, điều mà các dự án gia công PM ở giai đoạn đầu thường không đòi hỏi. Kinh nghiệm của Ireland cho thấy các ý tưởng mới về công nghệ thường xuất phát từ các kỹ sư làm việc trong nước. Ngày nay, thị trường cho công nghệ PM rất mở, nên khó bán hàng với chất lượng không tốt. Vì thế, ngay cả khi đã có thị trường xuất khẩu khả quan, CNp xuất khẩu vẫn luôn cần thị trường nội địa để tích lũy sở hữu trí tuệ, thử nghiệm ý tưởng mới, kiểm thử và tạo uy tín cho sản phẩm, làm cho chất lượng sản phẩm ngày một cao [3, 4].

    Theo hướng này, trong giai đoạn tới, cần có đột biến trong đầu tư cho các ứng dụng về chính phủ điện tử, các chương trình phát triển ứng dụng Internet cho cộng đồng và phổ cập tin học cho nông thôn với các dịch vụ nội dung thông tin là trọng tâm. Tuy nhiên, mức đầu tư hiện tại dưới 0,5% ngân sách và tâm lý "hậu PMU" (lo ngại quản lý đầu tư không có hiệu quả) làm cho hướng phát triển này gặp nhiều khó khăn. Một biện pháp quản lý đầu tư chặt chẽ với trung tâm là "Kiến trúc CNTT QG" [3, 5] và nâng cao nhận thức liên quan là rất cấp thiết.

    2. Nâng cao năng lực cạnh tranh. gắn phát triển CNpPM với ngành khác

    Cùng với các ứng dụng trong chính phủ, thị trường ứng dụng CNTT trong DN sẽ tạo nên thị trường nội địa cho CNpPM. Những năm 1980, Ireland đã quá tập trung xuất khẩu dẫn đến tình trạng CNTT xâm nhập rất kém vào các DN nhỏ và vừa, khiến việc mở rộng thị trường lao động và nâng tính cạnh tranh của nền kinh tế bị mất nhiều cơ hội.

    Hiện nay, Chính Phủ VN đã phê duyệt Đề Án 191 để hỗ trợ thị trường này. Tuy vậy, đầu tư ứng dụng CNTT trong DN VN đang ở dưới mức 0,4% doanh thu. Theo nhiều đánh giá, thị trường ERP VN phát triển rất chậm. Nguyên nhân sâu xa là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh chưa lớn.

    Theo chúng tôi, trước hết, nên tập trung vào các mũi nhọn trong các khu vực dịch vụ, có doanh thu cao và có giao dịch quốc tế lớn như viễn thông, ngân hàng, tài chính, giao thông vận tải, xuất nhập khẩu... để khởi động thị trường. Tuy nhiên, do sức ì của giai đoạn kinh doanh độc quyền, DN lĩnh vực này vẫn chưa thấy ứng dụng CNTT sẽ là năng lực cạnh tranh tương lai. Các công ty viễn thông lớn như tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông VN (VNPT) có mức đầu tư vào ứng dụng CNTT dưới 0,3% doanh thu, vẫn đang chỉ tập trung cạnh tranh ở thị trường dịch vụ cơ bản. Tăng trưởng của các thị trường này tuy đang lớn nhưng đã có dấu hiệu cho thấy điểm bão hòa không còn xa. Đây là lời khuyên của một chuyên gia nước ngoài [2]: "Với những nước có ít năng lực sáng tạo tiên tiến, nhưng có thị trường tiềm năng lớn cho CNp như Philippines, Indonesia hay VN, trọng tâm phát triển PMQG cần hướng tới các lĩnh vực thiết yếu và sử dụng sự gắn kết nhà sản xuất - người sử dụng để xây dựng năng lực cạnh tranh cho xuất khẩu PM trong các lĩnh vực đó”.

    3. Nhúng PM vào mọi sản phẩm

    Đây là thị trường rất lớn và đầy tiềm năng. Một QG có CNp phần cứng phát triển đi trước như Trung Quốc sẽ có thị trường thuận lợi cho PM nhúng. Phải làm chủ khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới có khả năng đi theo hướng này. Hiện sản phẩm dân dụng như ô tô, máy lạnh, TV... tại VN chủ yếu là lắp ráp. Xu hướng phát triển gia công lắp ráp với khối lượng lớn, giá trị gia tăng thấp không khuyến khích phát triển PM nhúng. Các chiến lược phát triển ở các lĩnh vực khác nhau trong CNTT dường như chưa được thiết kế để hỗ trợ cho nhau.

    VN cũng chưa có ngành CNp sản xuất chip để làm thị trường cho PM nhúng. Việc Intel, với tư cách nhà sản xuất chip hàng đầu, đã đầu tư vào VN, tạo ra hy vọng về những cơ hội mới trong tương lai. Song có lẽ, sự có mặt của công ty Cadence - nhà phát triển hàng đầu trong công nghệ thiết kế vi mạch - sẽ có ảnh hưởng thực tế sớm hơn nhiều. Tuy nhiên, năng lực nội địa về thiết kế sản phẩm điện tử, lập trình thời gian thực... của VN còn khá hạn chế. Vì vậy, các chương trình phát triển công nghệ vi mạch (như tại TP.HCM) cần được chú ý nhiều hơn nữa.

    Việc nhúng PM ứng dụng vào các sản phẩm khác nhau tương đối dễ dàng, nhất là với các flash chip có khả năng lập trình. Phát triển các PM nhúng trong các thiết bị di động cũng mỗi ngày một thuận lợi, do xu hướng mở các giao diện ứng dụng của các nhà sản xuất. Đây là mảng thị trường mà các nhà sản xuất nội địa có những ưu thế nhất định, nếu như việc sản xuất các flash chip và các thiết bị đầu cuối được phát triển tại VN [3].

    4. Xuất khẩu dịch vụ, công nghệ và sản phẩm PM

    Có ba hướng khác nhau mà ba QG đi theo đều thành công. Ấn Độ dựa vào nguồn nhân lực dồi dào, đi theo hướng dịch vụ PM (gia công, hỗ trợ kỹ thuật) đòi hỏi nhân lực không cao cấp, phục vụ cho những công xưởng PM quốc tế lớn. Israel xuất khẩu công nghệ lõi cho các công ty phát triển sản phẩm tại Mỹ và EU. Cách đi này tạo nguồn thu ổn định lâu dài, giá trị gia tăng lớn, dựa trên nguồn nhân lực cao cấp và các cơ sở nghiên cứu, trường đại học có khả năng đầu tư thu hút các chuyên gia hàng đầu trên thế giới. Ireland xuất khẩu sản phẩm dựa trên các thế mạnh về địa lý, xã hội.

    Con đường tương đối hiện thực của VN có lẽ là dịch vụ. Dịch vụ không chỉ hạn chế trong việc gia công xuất khẩu PM, mà có thể "nhúng" PM có chất lượng vào các dịch vụ. Việc VNPT sẽ mở các cơ sở kinh doanh tại Mỹ có thể tạo thành mũi nhọn để phát triển thị trường cho CNpPM VN. Cần khuyến khích các mũi nhọn đột phá như vậy trong toàn bộ khu vực dịch vụ khác như viễn thông, ngân hàng, tài chính, giao thông và xuất nhập khẩu [3]. PM phục vụ các dịch vụ này được sản xuất tại VN, có giá thành hạ, phù hợp với các đặc trưng trong các giao dịch quốc tế với VN, tạo nên sự khác biệt trong cạnh tranh, sẽ là mũi nhọn mở ra các thị trường tiềm năng bên ngoài.

    5. Cơ hội kinh doanh với năng lực về CNTT

    Các cơ hội kinh doanh do năng lực về CNTT đem lại có thể xây dựng và phát triển trong thời gian ngắn từ 1-2 năm, chỉ cần có hạ tầng, môi trường pháp lý thuận lợi và nguồn nhân lực thích hợp. Sự phát triển đột biến của việc kinh doanh game online là một ví dụ. Ngoài ra còn vô số các cơ hội kinh doanh với trang bị PM, phần cứng, mạng lưới, năng lực tư vấn thiết kế về CNTT.

    6. Các dịch vụ đặc biệt phục vụ xuất bản PM

    Để xuất bản PM, sẽ phải có dịch vụ đi theo. Ngoài các dịch vụ thông thường như đóng gói, đào tạo, viết tài liệu sử dụng, bảo hành bảo trì... còn có dịch vụ "đặc biệt" như đầu tư rủi ro (venture capital), hậu cần và phân phối, tư vấn xây dựng các trung tâm hỗ trợ theo tiêu chuẩn quốc tế... Ví dụ, các đơn vị sản xuất PM đang còn nhỏ bé của VN phải căng nguồn lực để phát triển mạng lưới phân phối là không kinh tế. Việc hình thành các hợp đồng phân phối, thậm chí phải chia sẻ thương hiệu với các công ty dịch vụ có mạng lưới phân phối mạnh, cũng là một biện pháp có hiệu quả kinh tế.

    7. Đào tạo nhân lực PM

    Đây là một trong những cách tốt nhất để phát triển NLPMQG. Theo báo cáo "Toàn cảnh CNTT VN 2006", đào tạo nhân lực về CNTT chưa đáp ứng nhu cầu và ở trong trạng thái "hỗn loạn". Theo một cách hiểu nhất định, kết luận trên hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, cần làm rõ thêm một số điểm:

    Trước hết, phải khẳng định không có một cơ sở đào tạo nào, kể cả các trường đại học đẳng cấp cao như Carnegie Mellon, MIT hay Stanford, có thể đáp ứng nhu cầu về kỹ năng "ăn liền" cho các DN VN. Đào tạo học đường có những tiêu chí khác các trung tâm dạy nghề, hay đào tạo kỹ năng (cho dù rất cao cấp), không thể chạy theo thị trường biến đổi hàng ngày. Các chương trình học đường cần tập trung đào tạo ra những kỹ sư có khả năng tư duy độc lập, tự nghiên cứu hơn là dạy các kỹ năng, mẹo mực lập trình.

    Thứ hai, trên quan điểm học đường, theo kinh nghiệm riêng của chúng tôi (có lẽ cần một khảo sát đầy đủ hơn), nhiều sinh viên CNTT VN có chất lượng so sánh được với sinh viên các cơ sở đào tạo trung bình khá ở Mỹ. Nhưng hiện nay các DN không tạo được nhiều cơ hội cho các kỹ sư trẻ phát triển. Do đó, khoảng cách về trình độ giữa kỹ sư VN và kỹ sư nước ngoài tăng lũy thừa theo số năm kinh nghiệm làm việc.

    Thứ ba, có lẽ cần có một nghiên cứu chính xác xem số lượng sinh viên đào tạo có đáp ứng nhu cầu của ngành CNTT hay không. Hiện nay lĩnh vực CNTT đang phát triển mạnh, các cơ sở đào tạo CNTT đều đòi hỏi chất lượng đầu vào cao, nhưng vẫn có rất nhiều kỹ sư PM phải làm công việc trái nghề. Lương lập trình viên vẫn thấp hơn lương của các nhà quản lý và các hoạt động kinh doanh khác. Điều đó chứng tỏ thị trường vẫn còn nhỏ so với lượng kỹ sư. Nếu nhìn vào thống kế tiền lương ở Mỹ trong những năm phát triển bùng nổ của CNTT, lương quản trị dự án thường thấp hơn so với lương kỹ sư PM.

    Cuối cùng, nhiều DN cần người có bằng Aptech hơn so với kỹ sư đào tạo ở học đường có thể vì học đường của ta có chất lượng đào tạo thấp, hoặc cũng có thể cấu trúc và hướng phát triển CNpPM của ta có vấn đề, hoặc cả hai lý do. Khi CNpPM còn cần người thạo nghề hơn đầu óc suy nghĩ sáng tạo độc lập thì không thể có năng lực phát triển lớn và lâu dài được.

    8. Nghiên cứu các công nghệ và giải pháp PM mới

    Một hướng phát triển có vẻ xa vời đối với VN. Điều đáng buồn này có lẽ do năng lực tổ chức quản lý nghiên cứu nhiều hơn là chất lượng của đội ngũ nghiên cứu. Tuy nhiên, tại Trung Quốc, nơi phát triển CNpPM rất sát thực tiễn, đa số DN PM hàng đầu được tách ra (spin-off) từ các cơ sở nghiên cứu, đại học. Nhà nước đầu tư vào cơ sở nghiên cứu để xây dựng công nghệ lõi. Các cơ sở này khi có sản phẩm sẽ được tách thành công ty với ưu thế là các tài sản vô hình đã tích lũy được do nhà nước đầu tư. Việc khuyến khích xây dựng các công ty spin-off, ngược lại, sẽ làm cho việc nghiên cứu trong các viện, trường có định hướng thị trường rõ rệt hơn [4].

    Ghi chú:

    [1] Nguyễn Ái Việt, Nghiên cứu phương pháp đánh giá sản lượng PM VN, Đề tài nghiên cứu cấp bộ, Bộ BCVT (2004).

    [2] Shirley Tessler, Avron Barr and Nagy Hanna, National Software Industry Development: Considerations for Government Planners, EJISDC (2003), 13 10, 1-17.

    [3] Dự thảo Chương trình trọng điểm QG về CNTT&TT giai đoạn 2006-2010, Bộ BCVT (2005).

    [4] Tạo vốn cho quỹ phát triển CNTT, TGVT B tháng 3/2006, trang 19.

    [5] Sự cần thiết của kiến trúc thông tin quốc gia, TGVT B tháng 4/2006, trang 15.

    Lệnh Lỗi Dương

    ID: B0608_11