• Thứ Năm, 03/08/2006 09:48 (GMT+7)

    Hiệp định công nghệ thông tin ITA

    Hiệp định CNTT (ITA) mà VN tham gia khi gia nhập WTO sẽ đưa đến nhiều thời cơ và thách thức cho ngành CNTT trong nước vì phải dỡ bỏ thuế xuất nhập khẩu sản phẩm CNTT. Mời bạn đọc cùng tìm hiểu một số thông tin tóm lược về hiệp định này qua bài viết tổng hợp dưới đây.

    Hiệp định CNTT (ITA) mà VN tham gia khi gia nhập WTO sẽ đưa đến nhiều thời cơ và thách thức cho ngành CNTT trong nước vì phải dỡ bỏ thuế xuất nhập khẩu sản phẩm CNTT. Mời bạn đọc cùng tìm hiểu một số thông tin tóm lược về hiệp định này qua bài viết tổng hợp dưới đây.

    Mục đích chính của Hiệp Định Công Nghệ Thông Tin ITA (HĐCNTT ITA) là tự do hoá thị trường CNTT toàn cầu nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa nền công nghiệp CNTT trên thế giới trong thế kỷ 21.

    HĐ CNTT ITA ra đời tháng 12 năm 1996 tại Hội Nghị Bộ Trưởng (HNBT) tổ chức tại Singapore. Nội dung chính của Hiệp Định này là quy định việc từng bước gỡ bỏ dần hàng rào thuế quan xuất nhập khẩu đối với các sản phẩm (SP) liên quan đến CNTT, tiến tới miễn thuế hoàn toàn đối với các SP và dịch vụ trong thị trường này. Ban đầu có 29 nước cam kết tham gia HĐ bao gồm 15 nước trong liên minh Châu Âu, Úc, Canada, Đài Loan, Hồng Kông, Iceland, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nauy, Singapore, Thụy Sĩ, Liechtenstein, Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ. Thị trường CNTT của 29 nước này chiếm 83% thị trường CNTT toàn thế giới. Tại thời điểm đó, người ta vẫn chưa xác định được rõ ràng thời điểm HĐ ITA bắt đầu có hiệu lực vì một điều khoản trong HĐ có quy định là thị trường CNTT của các nước thành viên ITA phải chiếm ít nhất 90% thị trường CNTT toàn thế giới. Tuy nhiên, đến 1/4/1997 đã có thêm 11 nước thành viên bao gồm Cộng Hòa Séc, Costa Rica, Estonia, Ấn Độ, Israel, Macao (nay thuộc Trung Quốc), Malaysia, New Zealand, Rumani, Slovak Republic và Thái Lan tham gia HĐ; 40 nước thành viên của ITA này chiếm 90% thị trường CNTT. Do vậy, HĐ CNTT ITA bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/07/1997. Đến nay ITA đã có tổng cộng 68 nước thành viên, chiếm 98% thị trường CNTT toàn cầu.

    Những nội dung chính của HĐCNTT ITA

    Có ba nguyên tắc cơ bản sau mà mọi thành viên tham gia ITA cần phải thực hiện:

    (1) Phải tuân thủ danh sách các SP liên quan đến CNTT được ghi trong HĐ. Danh sách này liệt kê đầy đủ các SP và mô tả chi tiết về các SP đó.

    (2) Từng bước giảm dần thuế xuất nhập khẩu đối với những SP được liệt trong HĐ, và tiến tới bỏ hẳn thuế xuất/nhập khẩu.

    (3) Tất cả các loại thuế khác cũng cần được gỡ bỏ từng bước.

     

    Website của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ITC: www.intracen.org.

    HĐ cũng chỉ ra không có ngoại lệ cho bất cứ SP nào được liệt kê trong danh sách, tuy nhiên đối với một số SP "nhạy cảm" với một quốc gia nào đó thì có thể nới rộng thời hạn giảm thuế. Thành viên tham gia phải chủ động đề xuất những SP này. Ví dụ, các nước đang phát triển sẽ có nhiều cơ hội được nới rộng thời hạn vì các nước này còn đang trong giai đoạn xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT-TT, thuế nhập khẩu đối với những SP CNTT đóng góp rất nhiều vào ngân sách quốc gia. Do vậy, việc cắt giảm đột ngột thuế nhập khẩu với những SP này là không hợp lý.

    Một điểm khác rất quan trọng trong nội dung HĐ là: mặc dù các nước tham gia HĐ CNTT ITA không nhất thiết phải là thành viên của WTO, nhưng các điều khoản quy định trong HĐ ITA có thể áp dụng được cho tất cả các nước thành viên WTO. Do vậy, một số nước mặc dù chưa tham gia HĐ CNTT ITA nhưng nếu đã là thành viên của WTO thì vẫn được hưởng lợi ích giống như các nước thành viên ITA. Có lẽ đây là lý do tại sao các nước có thị trường CNTT khá lớn như Brazil, Mêhicô và Nam Phi vẫn chưa là thành viên chính thức tham gia HĐ ITA.

    Mặc dù không có điều khoản nào trong HĐ quy định rõ ràng, nhưng các nước đang phát triển thường được ưu tiên hơn về thời hạn gỡ bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan đối với các SP CNTT. Hai ví dụ điển hình là Honduras và Nicaragua. Hai nước này cùng tham gia ITA từ tháng 10/2005. Ủy ban thường trực ITA cho Honduras thời hạn 5 năm để giảm dần thuế, bắt đầu tính từ năm 2006. Thời hạn cho Nicaragua là 4 năm.

    Thị trường CNTT toàn cầu sau khi HĐCNTT ITA có hiệu lực

    Thị trường CNTT là thị trường đầy tiềm năng và ngày càng rộng mở. Năm 1997 là một năm quan trọng đánh dấu sự lớn mạnh của thị trường này. HĐ CNTT ITA bắt đầu có hiệu lực từ 01/07/1997. Cũng trong năm đó, tổng giá trị xuất khẩu các SP liên quan đến CNTT là 681 tỉ USD, lớn hơn tổng giá trị xuất khẩu của 3 ngành nông nghiệp, ô tô, và dệt may gộp lại.

     

    Bảng phân bố thị trường CNTT toàn cầu năm 2002

     
     

    Quốc gia

       

    Xuất khẩu

       

    Nhập khẩu

     
     

    Mỹ

       

    17,4%

       

    23,2%

     
     

    Nhật Bản

       

    11,4%

       

    7,7%

     
     

    Liên Minh Châu Âu

       

    11,3%

       

    15,6%

     
     

    Trung Quốc

       

    10,8%

       

    10,2%

     
     

    Singapore

       

    9,3%

       

    6,5%

     
     

    Hàn Quốc

       

    8,2%

       

    4,3%

     
     

    Đài Loan

       

    7,6%

       

    5%

     
     

    Malaysia

       

    6,4%

       

    4,8%

     
     

    Canada

       

    1,6%

       

    3,1%

     
     

    Các nuớc còn lại

       

    16%

       

    19,6%

     

    Thị trường CNTT toàn cầu năm 2002 cho thấy, Mỹ, Liên Minh Châu Âu và Nhật Bản dẫn đầu trong xuất khẩu. Theo thống kê của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO, Mỹ chiếm 17,4% thị trường xuất khẩu CNTT toàn thế giới. Tiếp theo là Nhật Bản chiếm 11,4%. Liên Minh Châu Âu đứng vị trí thứ 3 với 11,3%. Các nước này cũng dẫn đầu trong nhập khẩu CNTT. Mỹ chiếm 23,2% thị trường nhập khẩu, Liên Minh Châu Âu đứng vị trí thứ 2 với 15,6%, Nhật Bản chiếm 7,7%. Với diện tích rộng lớn và dân số đông, Trung Quốc hiển nhiên là một thị trường lớn đầy tiềm năng. Xuất khẩu CNTT của TQ chiếm 10,8%, nhập khẩu chiếm 10,2%. Tuy là đất nước với diện tích nhỏ bé, nhưng Singapore vượt cả Hàn Quốc trong thị trường này. Xuất khẩu CNTT của Singapore chiếm 9,3% thị trường toàn cầu, trong khi của Hàn Quốc là 8,2%. Nhập khẩu của Singapore là 6,5%, trong khi của Hàn Quốc là 4,3%. Ba nước khác có nền công nghiệp CNTT phát triển mạnh là Đài Loan, Malaysia và Canada. Xuất khẩu của Đài Loan chiếm 7,6% thị trường toàn cầu, nhập khẩu là 5%. Xuất khẩu của Malaysia là 6.4%, của Canada là 1,6%. Nhập khẩu của Malaysia là 4,8%, của Canada là 3,1%. Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Malaysia, Mêhicô và Thái Lan là những nước xuất siêu, trong khi đó Liên Minh Châu Âu, Canada và Mỹ là những nước nhập siêu.

    Nhìn từ một góc độ khác, các tập đoàn xuyên quốc gia chiếm phần lớn thị trường, SP, và đầu tư liên quan đến CNTT. Theo thống kê của Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế, trong 100 tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới có đến 22 tập đoàn trong lĩnh vực CNTT. Trong đó 8 tập đoàn là của Mỹ, 8 tập đoàn thuộc Liên Minh Châu Âu và 6 tập đoàn là của Nhật Bản.

    Cơ hội và thách thức cho các nước đang phát triển

    Website của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới: www.wto.org.

     

    Các nhà đầu tư khi chọn địa điểm đầu tư thường căn cứ vào hai yếu tố chính là giá thuê nhân công và thuế. Các nước đang phát triển vốn đã có lợi thế về giá thuê nhân công rẻ, khi tham gia vào HĐ CNTT ITA sẽ có thêm lợi thế thứ 2 về thuế, do vậy sức thu hút với các nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn sẽ tăng rõ rệt, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp FDI từ các tập đoàn CNTT lớn trên thế giới. Đây chính là cơ hội lớn nhất cho các nước đang phát triển. Điều này góp phần rất nhiều vào việc phát triển công nghiệp CNTT còn khá non trẻ ở các nước này. Hơn nữa, giá cả các SP CNTT sẽ giảm nhiều khi gỡ bỏ hàng rào thuế quan và đây cũng là động lực phát triển nền công nghiệp CNTT. Tuy nhiên, các nước đang phát triển cũng cần cân nhắc và tìm cách hạn chế, xử lý những vấn đề không mấy có lợi khi tham gia ITA. Thứ nhất, nguồn thu ngân sách từ việc đánh thuế các SP CNTT sẽ giảm đi. Thứ hai, các SP CNTT ngoại nhập xuất hiện ồ ạt trên thị trường nội địa có thể sẽ có ảnh hưởng xấu, hạn chế sự phát triển của nền công nghiệp CNTT ở các nước này. Đây là một thách thức lớn cho các nước đang phát triển, họ cần phải vượt qua để hội nhập vào sân chơi chung đầy hứa hẹn của thế giới.

    Bùi Quang Hưng
    (Bài viết có sử dụng số liệu từ Tổ chức Thương Mại Thế giới http://www.wto.org/ và Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ITC http://www.intracen.org/).

    ID: B0608_54