• Thứ Tư, 13/09/2006 08:09 (GMT+7)

    Quy hoạch CNTT-VT vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

    Theo dự thảo quy hoạch phát triển CNTT - VT vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB) đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, vùng này sẽ là một trung tâm mạnh về sản xuất phần mềm, dịch vụ CNTT ở khu vực Đông Nam Á. Các chỉ tiêu về CNTT - VT vùng đều cao hơn từ 1,3 – 1,5 lần so với chỉ tiêu cả nước. Nhưng làm thế nào để việc tham gia quy hoạch không chỉ là “đánh trống ghi tên”?

    Vài nét về quy hoạch

    Quy hoạch (do Viện Chiến Lược BCVT và CNTT chủ trì soạn thảo) được xây dựng trên quan điểm đưa CNTT - VT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đi trước một bước, phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và góp phần đưa vùng KTTĐBB trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại lớn của đất nước. CNTT - VT tại vùng KTTĐBB phát triển mạnh sẽ làm hạt nhân lan tỏa và động lực thúc đẩy, hỗ trợ các tỉnh phía nam sông Hồng và các tỉnh khác trong khu vực phía Bắc. Trong dự thảo này có một số mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể đáng chú ý:

     

    Về viễn thông: Xây dựng hạ tầng viễn thông tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh với công nghệ hiện đại, ngang tầm các nước phát triển trong khu vực. Hà Nội trở thành một trung tâm dịch vụ viễn thông chất lượng cao của cả nước và có tầm cỡ quốc tế. Đẩy mạnh việc mở rộng vùng phủ sóng thông tin di động tại các vùng nông thôn… Đến năm 2010, mật độ điện thoại toàn vùng đạt 57 - 61 máy/100 dân (chỉ tiêu cả nước là 32 - 42), trong đó điện thoại cố định là 24 - 26 máy và điện thoại di động là 33 - 35 máy. Mật độ thuê bao Internet các loại đạt 13 - 15% (cả nước là 8 - 12%), trong đó thuê bao băng rộng chiếm 50%. Tỷ lệ dân số sử dụng Internet là 49 - 56% (cả nước là 25 - 35%).

     

    Về công nghiệp (CNp) CNTT: Tốc độ tăng trưởng đạt 30 - 35%/năm, đạt doanh thu 2 - 3 tỉ USD vào năm 2010. Tăng tỷ trọng công nghiệp điện tử chuyên dụng lên 50% tổng sản lượng công nghiệp điện tử. Phát triển các sản phẩm thiết bị BCVT mới trên nền tảng công nghệ tiên tiến nhất thế giới. CNp phần mềm và dịch vụ đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 50%/năm trong giai đoạn 2006 - 2008, sau đó giữ ở mức 45%/năm. Tạo lập môi trường thúc đẩy công nghiệp nội dung thông tin phát triển, doanh số đạt khoảng 30 - 40 triệu USD vào năm 2010.

     

    Về ứng dụng CNTT: Xây dựng hệ thống chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin thông suốt, kịp thời trên địa bàn tỉnh, thành phố và từ UBND tỉnh, thành phố đến văn phòng Chính Phủ. Một số dịch vụ khai báo, đăng ký, cấp phép được thực hiện trực tuyến. Trung bình 40% DN lớn thực hiện báo cáo, thống kê, khai báo thuế, đăng ký và được cấp phép kinh doanh, nhận chứng chỉ qua mạng. Trên 40% DN khai báo, đăng ký và được cấp phép hải quan qua mạng. Khoảng trên 50% DN lớn nắm vững kỹ năng kinh doanh trên mạng và tiến hành các giao dịch điện tử, 70% DN vừa và nhỏ có ứng dụng nhất định về TMĐT.

     

    Dựa trên các mục tiêu đó, dự thảo đưa ra quy hoạch CNTT - VT vùng với một số nét như sau: Nâng cấp hệ thống viễn thông, mở rộng vùng phủ sóng di động đến tất cả các xã bám theo quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ. Giai đoạn 2008 - 2010 mở rộng vùng phủ sóng đến tất cả các xã trong toàn vùng. Đẩy mạnh phổ cập Internet đến tất cả các thôn trong vùng (Đến 2010 đạt 100%). Đến năm 2020, phát triển thông tin di động theo hướng cung cấp dịch vụ băng rộng và hội tụ giữa di động và cố định. Xây dựng mạng di động tiến lên mạng thế hệ sau (3G hoặc 4G).

     

    Ngày 6/9/2006, Bộ BCVT đã tổ chức họp lấy ý kiến về dự thảo quy hoạch vùng KTTĐBB (Ảnh: báo Quân Đội Nhân Dân)
    Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài cho CNpCNTT, coi thu hút đầu tư nước ngoài là biện pháp chủ yếu để phát triển ngành CNp này. Tập trung phát triển sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, có hàm lượng tri thức, đòi hỏi ít nhân công lao động (như vật liệu bán dẫn, chip điện tử) tại khu vực Hà Nội, Khu Công Nghệ Cao (CNC) Hòa Lạc. Đẩy nhanh việc triển khai Khu CNC Hoà Lạc, trong đó thu hút các nguồn đầu tư, đặc biệt các nguồn đầu tư nước ngoài cho các dự án: nhà máy sản xuất thiết bị truy nhập băng rộng, nhà máy lắp ráp máy tính thế hệ mới, nhà máy sản xuất màn hình LDC/Plasma, trung tâm nghiên cứu triển khai về CNTT… Phát triển vùng KTTĐBB, mà hạt nhân là TP Hà Nội thành một trung tâm mạnh về sản xuất phần mềm, dịch vụ CNTT ở khu vực Đông Nam Á. CNpCNTT trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, chủ lực, phát triển bền vững, tăng trưởng cao, ổn định với giá trị sản xuất chiếm 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn vùng.

     

    Các giải pháp thực hiện quy hoạch được chia làm 4 nhóm: huy động vốn, phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, cơ chế chính sách.

     

    Thiếu giải pháp trọng tâm

    Theo phần lớn đại diện các địa phương trong vùng KTTĐBB, dự thảo quy hoạch nêu trên còn chung chung và khó thực hiện. Ông Nguyễn Mạnh Dũng, giám đốc Sở BCVT Hà Nội thắc mắc vì chưa thấy rõ logic giữa quy hoạch với mục tiêu, logic giữa quy hoạch CNTT - VT với quy hoạch chung về kinh tế - xã hội của vùng. Theo ông Dũng, giải pháp mang tính quyết định nhất để thực hiện quy hoạch không rõ, có phần mang nặng tính “thăm hỏi lẫn nhau” hơn là làm kinh tế, giống như đa số các giải pháp liên kết và quy hoạch khác trong 5 năm vừa qua. Ông Bùi Thanh Tùng, phó giám đốc Sở Khoa Học Công Nghệ Hải Phòng nhận xét dự thảo quy hoạch chưa nêu rõ đặc thù của từng tỉnh để có giải pháp phù hợp. Các nhóm giải pháp đưa ra tuy đúng nhưng chưa sát. Giải pháp trọng tâm đối với từng mảng chưa có. Cơ chế phối hợp và cơ chế đầu mối không có.

     

    Ông Nguyễn Quang Hảo, phó giám đốc Sở BCVT Hải Dương cũng cho rằng, với cơ chế như hiện nay thì chỉ có thể thực hiện được ở cấp bộ, còn dưới địa phương thì không, vì các sở chỉ là tham mưu, giúp việc cho UBND tỉnh, không thể chủ trì liên kết. Đơn cử, lãnh đạo các sở có thể cung cấp thông tin với tư cách cá nhân, nhưng thông tin cung cấp cho mạng thông tin liên kết vùng thì phải có sự đồng ý của UBND tỉnh. Với tư cách là đơn vị đầu mối liên kết, các sở hiểu rằng việc đầu tư không thể dàn trải, mà phải tập trung vào một vài khu vực, địa phương có các điều kiện thuận lợi để đạt hiểu quả đầu tư cao nhất. Nhưng với tư cách là cơ quan giúp việc tỉnh, các sở lại muốn lôi kéo các suất đầu tư về tỉnh mình để đáp ứng mong muốn của lãnh đạo tỉnh. Như vậy muốn liên kết thực hiện tốt quy hoạch, cần phải “lôi kéo” UBND các tỉnh tham gia.

     

    Tuy nhiên, ông Hảo không đồng tình với ý kiến cho rằng cần chờ quy hoạch vùng. Theo ông, có hai cách quy hoạch: Một là “quy hoạch minh họa”, tức quy hoạch từ trên xuống, khi đã có đủ quy hoạch kinh tế - xã hội; quy hoạch ngành chỉ việc chờ và ghép, mang tính thụ động. Thứ 2 là “quy hoạch đề xuất”, phải dùng nhiều đến trí tuệ, lý luận, tập trung nhân lực, vật lực. Ông Hảo cho rằng nên mạnh dạn làm quy hoạch theo hướng này. Nếu chờ thì rất lâu.

     

    Ông Trần Đức Lai, thứ trưởng Bộ BCVT cũng đồng ý là cần làm “quy hoạch đề xuất”, vì hiện tại chỉ có Quyết Định 145/2004/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ nêu ra một số chỉ tiêu cho quy hoạch kinh tế - xã hội vùng. Song, tại hội thảo lấy ý kiến góp ý cho dự thảo được tổ chức gần đây, chưa có nhiều ý kiến được đề xuất. Theo ông Nguyễn Văn Chúc, giám đốc Sở BCVT Vĩnh Phúc, nếu hợp tác cả 8 tỉnh một lúc là rất khó, không có sự đồng thuận lớn thì nên khuyến khích những hợp tác song phương trong vùng, như hợp tác Hà Nội – Vĩnh Phúc, Hà Nội – Hải Dương trong thời gian gần đây. Việc xây dựng quy hoạch cũng không nên quá cầu toàn, chỉ cần có định hướng là được. Trong quá trình thực hiện có thể điều chỉnh, bám theo định hướng. Về tổ chức, cấp điều hành phải là cấp bộ - ông Chúc đề nghị.

     

    Nguyễn Hưng

    ID: O0609_1