• Thứ Sáu, 03/11/2006 16:10 (GMT+7)

    Phần mềm Xử lý nước thải tại SEAB

    Toàn bộ quy trình xử lý nước thải nêu trên có thể theo dõi trực tiếp trên màn hình máy tính, thông qua phần mềm có tên FVH. Đồng thời, việc điều chỉnh tự động lượng các chất làm trung hòa cũng thực hiện ngay trên máy tính theo các thông số cài đặt trước.

    Hệ thống xử lý nước thải hoàn toàn tự động

    Với sản lượng 55 triệu lít bia/năm, liên doanh nhà máy bia Đông Nam Á (SEAB) có lượng nước thải công nghiệp lớn, lên tới 600m3/ngày. Bằng việc đầu tư hệ thống trạm xử lý nước thải với công nghệ tiên tiến, hoàn chỉnh cùng một phần mềm chuyên dụng, SEAB đã tự động hóa toàn bộ quá trình xử lý nước thải, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Điều đó có ý nghĩa vì nhà máy đang đóng trên địa bàn dân cư.

    Tổng giá trị của phần mềm và hệ thống trạm xử lý nước thải gần 1 triệu USD - một khoản tiền không nhỏ. Ông Nguyễn Văn Cường, phó giám đốc kỹ thuật SEAB, cho biết: nhà máy đầu tư gần 1 triệu USD cho một hệ thống không làm ra lợi nhuận bởi đây là chính sách của công ty không chỉ nâng cao chất lượng, số lượng, tạo giá cạnh tranh thành phẩm mà còn giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Và đây cũng là xu hướng mà các doanh nghiệp (DN) VN cần thực hiện trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

    Trong nhà máy, nước thải theo hệ thống cống thu gom vào hầm bơm. Một hộp chắn rác được đặt ở đầu hầm bơm. Theo quy trình của phần mềm điều khiển, nước thải qua hầm bơm vào bể trung hòa. Quá trình xử lý nước thải bao gồm việc điều chỉnh độ pH, xử lý kỵ khí, xử lý hiếu khí, xử lý bùn. Hệ thống điều chỉnh độ pH được lắp trên đường ống kèm theo bơm điều chỉnh tự động HCl và NaOH. Hệ thống có khả năng tự điều hòa nước trong bể để giữ cho độ pH luôn trong khoảng từ 4,5 đến 8,5. Nước thải sau đó tiếp tục chảy từ bể trung hòa vào buồng phản ứng Metan kỵ khí kiểu UASB (lọc nhỏ giọt để xử lý nước thải).

    Buồng này được trang bị một máy tách ba pha đặc biệt được bố trí tại nóc buồng. Sau khi dâng lên qua tầng bùn trải rộng của lớp bùn, sinh khối hoạt hóa kỵ khí (gọi là sàn bùn), hỗn hợp nước – bùn thải đi qua một máy phân loại, tách ba pha phía trong đặt tại đỉnh của buồng phản ứng. Kết quả của quá trình tách hỗn hợp nước – bùn là tạo ra được nước trong, khí biogas và bùn. Lượng bùn rời khỏi buồng phản ứng UASB đi sang bể xử lý hiếu khí. Bùn được đưa vào máy ép cơ khí kiểu máy ép lọc dây đai. Còn khí biogas được thông liên tục bằng một quạt gió tới nhà nồi hơi để tái sử dụng như nguồn nhiên liệu cho một trong các nồi hơi dùng cho nhà máy bia.

     

    Cán bộ kỹ thuật của nhà máy có thể theo dõi trực tiếp trên màn hình máy tính toàn bộ quy trình xử lý nước thải, đồng thời điều chỉnh tự động các chất làm trung hòa ngay trên máy tính.

    Toàn bộ quy trình xử lý nước thải nêu trên có thể theo dõi trực tiếp trên màn hình máy tính, thông qua phần mềm có tên FVH. Đồng thời, việc điều chỉnh tự động lượng các chất làm trung hòa cũng thực hiện ngay trên máy tính theo các thông số cài đặt trước.

    Không chỉ dừng lại ở việc xử lý nước thải, SEAB cũng quan tâm đến việc khử mùi hôi. Sau khi tham khảo kinh nghiệm của một số DN ở Nam Kinh, Trung Quốc cũng như ở Đông Nam Á, SEAB đã sử dụng cơ cấu lọc sinh học để khử mùi tạo ra do quá trình xử lý kỵ khí.

    Trạm xử lý nước thải ở SEAB đã được đưa vào vận hành 4 năm với kết quả rất tốt. Tiêu chuẩn nước đầu ra sau trạm xử lý phù hợp với TCVN loại B (xem bảng).

    Vấn đề tất yếu sau hội nhập

    Nhìn chung, các DN sản xuất trong nước hiện nay chưa quan tâm đúng mức đến việc xử lý nước thải sau sản xuất, họ cho rằng đầu tư hệ thống xử lý nước thải vừa tốn tiền, vừa không mang lại lợi nhuận. Tuy nhiên, tại các nước công nghiệp hóa, các DN đều rất chú trọng đến việc bảo vệ môi trường sinh thái. Từ năm 1969, Quốc Hội Mỹ đã thông qua luật môi trường quốc gia nhằm "tạo ra và duy trì các điều kiện môi trường trong đó con người và thiên nhiên cùng tồn tại trong mối quan hệ hài hòa có lợi". Cho đến năm 1988, hầu hết các thành phố của Mỹ đều đã xây dựng hoặc đã cam kết xây dựng mạng lưới hạ tầng xử lý nước thải.

    Tại kỳ họp Quốc Hội Khóa XI (tháng 10/2005), Quốc Hội Việt Nam cũng đã thảo luận về Luật Môi Trường. Riêng TP.Hà Nội cũng đã giao cho Sở GTCC triển khai xây dựng 2 trạm xử lý nước thải thử nghiệm tại Kim Liên (3.700 m3/ngày) và Trúc Bạch (2.300 m3/ngày). Phát biểu trước báo chí mới đây, đại diện Sở Tài Nguyên Môi Trường TP.HCM cũng thể hiện quyết tâm đến cuối năm 2006, toàn bộ 100% khu công nghiệp đóng trên địa bàn phải có hệ thống xử lý nước thải. Thủ Tướng Chính Phủ cũng đã quyết định phấn đấu đến năm 2010, VN sẽ quản lý 70% các nguồn thải, loại chất thải, và lượng chất thải. Trong đó có 90% tổng sản lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp được thu gom và xử lý, 10% chất thải rắn y tế và 60% chất thải rắn độc hại công nghiệp được xử lý bằng những công nghệ phù hợp, v.v...

    Quy trình xử lý nước thải đang áp dụng ở SEAB có thể sử dụng cho trạm xử lý nước thải chung của toàn quận hay toàn thành phố. Giá thành khi đó giảm hơn rất nhiều so với việc từng công ty xây dựng trạm xử lý riêng.

     

    CÁC THÔNG SỐ VỀ NƯỚC THẢI TRƯỚC VÀ SAU XỬ LÝ

     
         
            Đơn vị     Trước xử lý (tính TB)     Sau xử lý  
      Lưu lượng BOD5     mg/lít     2000     50  
      Lượng COD     mg/lít     2857     100  
      Lượng chất rắn không tan lơ lửng – TSS     mg/lít     714     100  
      Tổng lượng phốt pho     mg/lít     60     6  

    Thu Nga

    ID: B0611_46