• Thứ Ba, 05/12/2006 08:21 (GMT+7)

    Những ngộ nhận về đào tạo nhân lực CNTT

    Việc đào tạo CNTT từ ít sang thực hành nhiều hơn có thể tạo ra những rãnh mòn trong tư duy. Chúng ta cần ngồi lên cỗ xe để chạy đua, không nên hì hụi "phát minh lại bánh xe".

    Việc đào tạo (ĐT) CNTT từ ít sang thực hành nhiều hơn có thể tạo ra những rãnh mòn trong tư duy. Chúng ta cần ngồi lên cỗ xe để chạy đua, không nên hì hụi "phát minh lại bánh xe".

    Nhân lực CNTT VN yếu kém ở đâu?

    Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu thực sự khoa học về chất lượng nguồn nhân lực CNTT Việt Nam (VN). Một mặt, trong các báo cáo, VN thường được coi là có tiềm năng phát triển CNTT với ưu thế chủ yếu về nguồn nhân lực. Các học sinh, sinh viên (HS, SV) được ĐT tại VN thường chiếm giải cao trong các kỳ thi quốc tế, thành công trong các chương trình sau ĐH ở nước ngoài, nhiều người đã trở thành giáo sư ở các trường ĐH danh giá ở Mỹ. Mặt khác, một số nhận định về chất lượng ĐT CNTT ở VN lại tương đối bi quan. Để vượt qua những đánh giá mang màu sắc cảm tính, cần có một phân tích sâu hơn vào bản chất của vấn đề này.

    Đánh giá chất lượng ĐT nhân lực CNTT dựa trên tiêu chí "sinh viên mới tốt nghiệp ĐH không đáp ứng được nhu cầu của công nghiệp CNTT" tức là ngộ nhận về vai trò của ĐT học đường. Chúng tôi đã có dịp làm việc với một số SV tốt nghiệp các trường ĐH hàng đầu về CNTT ở Mỹ như Stanford, MIT hay Carnegie Mellon. Họ cũng đều vấp phải những lúng túng trong bước đầu vào làm việc công nghiệp (CNp) như SVVN. Do nhu cầu của CNpCNTT hết sức đa dạng và thay đổi rất nhanh, không có một chương trình ĐT nào có thể tạo ra sản phẩm "ăn liền" cho nhu cầu đó.

    Cần phân biệt ĐT học đường và ĐT CNp. ĐT CNp bao gồm ĐT chuyên gia, dạy nghề và ĐT trong công việc (training-on-job). Một chuyên gia dù đã có kinh nghiệm, khi tới một môi trường làm việc mới cũng phải có thời gian để học hỏi. Những SV mới ra trường, chưa có kinh nghiệm làm việc đều phải được ĐT lại trong các công ty. Xây dựng chương trình ĐT cho riêng mình là việc các công ty CNTT luôn phải tự lo. Nếu chương trình ĐT này lại mô phỏng hoặc có tham vọng thay thế hoàn toàn chương trình ĐT tại học đường thì đó là một việc làm vô ích.

    Việc ĐT sản phẩm "ăn liền" không bao giờ có thể là mục tiêu của ĐT học đường. CNTT không phải chỉ là những Java, XML, Web Sphere, VB Script hay dot Net... Mục tiêu của ĐT học đường chính là để rút ngắn thời gian học tập những vấn đề hoàn toàn mới. Để làm được điều đó, nhà trường phải trang bị cho các kỹ sư tương lai một kiến thức vững chắc, một phương pháp tư duy đúng đắn và khả năng tự nghiên cứu. Bên cạnh đó, một số kỹ năng thực hành cũng cần được rèn giũa ngay tại trường ĐH để các SV có kinh nghiệm tiếp thu kỹ năng mới trong thời gian ngắn nhất. Một số trường ĐH tiên tiến có cách ĐT tương đối ấn tượng, đòi hỏi SV viết được một số chương trình ứng dụng bằng các ngôn ngữ lập trình khác nhau trong một khóa học và mỗi ngôn ngữ chỉ được học và sử dụng trong 1-2 tuần. Như vậy, sau này trong CNp, các chương trình ĐT chuyên gia về Java hay C++ mới có thể diễn ra trong một khóa học gấp rút 2-3 ngày cho các kỹ sư chưa hề biết các ngôn ngữ này để họ có thể bắt tay ngay vào công việc.

    Trong các chương trình ĐT CNp có một chỉ tiêu rất quan trọng là "đường cong học tập" (learning curve). Đường cong này càng ngắn, chất lượng của nguồn nhân lực đầu vào càng cao. Một kỹ sư PM mới ra trường ở các nước tiên tiến cũng cần ít nhất hai năm để có thể làm việc hoàn toàn độc lập.

    Tại một số hội thảo gần đây về CNTT, có những thầy cô đã nhận điểm yếu của chương trình ĐT ĐH về CNTT là thiếu thực hành và đề ra giải pháp đưa các sản phẩm PM ứng dụng của các công ty trong và ngoài nước vào chương trình ĐT. Chúng tôi thực sự lo ngại trước nguy cơ đi từ thái cực này sang thái cực khác như thế. Việc huấn luyện sử dụng sản phẩm PM ứng dụng của một công ty vào ĐT học đường là một việc cần hết sức cân nhắc để tránh gây những rãnh mòn trong tư duy. Hơn nữa, SV có thể có nhận thức méo mó về CNTT chỉ là việc sử dụng thành thạo một số PM ứng dụng.

    Một chuyên gia lâu năm trong lĩnh vực điện tử tin học đã bày tỏ lo ngại "kỹ năng thiết kế càng ngày càng trở nên hiếm hoi". Điều đó sẽ rất nguy hiểm đối với sự phát triển lâu dài của CNp PM. Kỹ sư trước hết phải là người có khả năng thiết kế chứ không phải thạo các kỹ năng thi công.

    Như vậy yếu kém của nhân lực CNTT VN nằm ở đâu? Chúng tôi không có tham vọng đưa ra một nghiên cứu đầy đủ mà chỉ xin đề cập tới hai ví dụ điển hình mang tính gợi ý về nội dung ĐT và mô hình ĐT.

    Đừng cố gắng "phát minh lại bánh xe"

    Việc giải một bài toán thông thường của lớp trên bắt buộc chỉ sử dụng kiến thức của lớp dưới có thể kích thích óc sáng tạo của HS. Nhưng tiếc thay, việc sử dụng tràn lan các đề toán kiểu này lại là hậu quả của sự lười biếng suy nghĩ của người ra đề. Hơn nữa, nó cũng bóp chết khả năng tự nghiên cứu, mở rộng kiến thức của người học bằng cách biến các nội dung kiến thức mới thành các "mẹo" giải toán. Có thể do cách ĐT như vậy, ở cấp phổ thông, HS VN từ nhiều thế hệ vẫn mạnh về kỹ xảo, rất giàu "mẹo mực", nhưng yếu về kiến thức và hệ thống khái niệm.

    Việc đội tuyển VN lọt được vào vòng chung kết kỳ thi lập trình PM thế giới vừa qua lẽ ra có thể xem là một thành công. Tuy nhiên, kết quả của vòng chung kết đáng để chúng ta suy ngẫm: Nhiều chuyên gia trên thế giới khá ngạc nhiên khi đội tuyển của chúng ta sử dụng ngôn ngữ lập trình Pascal - thứ ngôn ngữ nhập môn phổ biến cách đây trên 20 năm! Ngày nay, Pascal hầu như không còn được sử dụng trên thế giới, song ở VN, nhiều người vẫn khăng khăng bảo vệ việc dạy ngôn ngữ này và cho rằng đây là ngôn ngữ cấu trúc tiêu biểu.

    Đội tuyển VN chỉ đủ thời gian hoàn thành được 1 trong số 3 bài lập trình, một kết quả rất thấp. Nguyên nhân chính là việc sử dụng Pascal đã khiến đội tuyển VN phải xây dựng lại nhiều đoạn PM mà trong một ngôn ngữ phát triển hơn như C/C++ hay Java, người ta chỉ cần sử dụng một hàm có sẵn trong thư viện. Sự thua kém của đội tuyển VN chính là ở chỗ, các em không được trang bị những công cụ tốt nhất và đã phải tham gia một cuộc đua không cân sức. Trên đấu trường quốc tế ngày nay, năng lực cạnh tranh không chỉ bao gồm óc phân tích, kỹ năng mà cả kiến thức. Thành bại trong một cuộc thi là chuyện nhỏ, nhưng nhân việc này chúng ta có thể rút ra bài học trong việc hoài công "phát minh lại cái bánh xe". Xây dựng lại những chương trình thư viện cũng là một việc nhỏ, nhưng tại sao chúng ta không thể đưa các nội dung ĐT CNTT hiện đại vào VN?

    Mô hình ĐT

    Gần đây có một số mô hình ĐT CNTT gắn với hoạt động DN. Điển hình là mô hình học viện Bưu Chính, Viễn Thông (BCVT) của tập đoàn BCVT VN và mô hình ĐH CNTT của công ty FPT. Hai mô hình này có ưu điểm chung là được sự hỗ trợ vật chất trực tiếp của hai DN lớn có khả năng gắn kết ĐT với thực tế. Tuy nhiên, các mô hình này đều có một số điểm yếu tiềm tàng cần lưu ý khắc phục trong tương lai.

    Như đã nói ở trên, CNTT xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội, kỹ sư CNTT cần có một kiến thức chung rất rộng. Do đó, ĐT CNTT, đặc biệt là ngành PM, nếu được đặt ở các trường ĐH, có nhiều ngành khác nhau sẽ thuận tiện hơn. Các học viện công nghệ hàng đầu trên thế giới như MIT, Caltech (Mỹ), PolyTechnique (Pháp)... đều có các khoa khác nhau từ khoa học công nghệ đến xã hội nhân văn. Một trường ĐH chuyên ngành về CNTT với quy mô như của FPT cần hết sức lưu ý đến chương trình ĐT các môn khoa học và nhân văn, tránh hướng trở thành một trung tâm dạy nghề nâng cấp. Việc sử dụng viện trợ ĐT của các công ty khác nhau là không thể tránh khỏi, tuy nhiên cần phải chú ý về liều lượng. Một kỹ sư CNTT đúng nghĩa phải có một quan niệm mở và khách quan về công nghệ. Mục đích xây dựng trường ĐH chắc không chỉ là giải pháp đáp ứng "cơn khát" nhân lực trước mắt của FPT. Trong tương lai lâu dài, việc cam kết "bao tiêu" toàn bộ số sinh viên ra trường sẽ không thể nào thực hiện được mãi. Sẽ có những động lực mới có xu hướng tách trường ĐH CNTT ra khỏi công ty FPT để có thị trường rộng lớn hơn.

    Học viện BCVT có ưu điểm so với ĐH FPT ở chỗ có quy mô lớn hơn và có nhiều ngành ĐT khác nhau. Với quy mô này, học viện có hoạt động nghiên cứu khá lớn. Tuy nhiên, các hoạt động nghiên cứu nếu chỉ phục vụ cho một mình tập đoàn BCVT sẽ không đủ thị trường và không tạo được một dây chuyền đồng bộ. Trong khi đó, các DN viễn thông mới sẽ có lý do để cân nhắc khi giao các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) các sản phẩm quan trọng cho đối thủ cạnh tranh của mình. Trong thực tế, các công ty như Viettel đã nghĩ đến việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu riêng của mình. Như vậy, trong tương lai sẽ có tình trạng manh mún. Tình trạng tương tự đã diễn ra tại Mỹ khi các công ty Bell con tách khỏi tập đoàn AT&T, lập ra tập đoàn R&D riêng là Bellcore. Đến năm 1996, công ty Bellcore trở thành Telcordia không thuộc sở hữu của công ty viễn thông nào và Bell Labs cũng tách khỏi AT&T thành công ty độc lập.

    Tập đoàn BCVT sẽ ngày càng có ít động lực đầu tư lớn vào học viện BCVT là nơi ĐT nhân lực CNTT cho tất cả các DN. Các đầu tư R&D cũng sẽ ít dần và chỉ tập trung ở một số nhiệm vụ liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của tập đoàn. Như vậy, trong tương lai một mô hình xã hội hóa các cơ sở ĐT về CNTT nói trên là cần thiết. Các DN có thể chỉ cần giữ một số trung tâm chuyển giao công nghệ và đầu tư giữ cổ phần ở một số cơ sở ĐT. Các cơ sở ĐT này sẽ có các trung tâm nghiên cứu mạnh, có dây chuyền nghiên cứu đồng bộ có khả năng thực hiện các hợp đồng nghiên cứu với các DN khác nhau, nhận đầu tư từ các công ty tài chính và chuyển giao các tài sản trí tuệ, để đưa kiến thức, công nghệ mới nhất vào học đường.

    Kết luận

    Có lẽ điểm yếu của ĐT CNTT VN không phải là thiếu thực hành nặng lý thuyết, mà ở chỗ lý thuyết chưa đủ mạnh để có thể nhanh chóng đi vào thực tiễn. Cần có một sự tổ chức và phân công đồng bộ hơn nữa, phân biệt rạch ròi ĐT học đường và ĐT công nghiệp. Các chương trình cần được hiện đại hóa, chuẩn hóa và được theo dõi thường xuyên bởi các cơ quan có trách nhiệm để có những biện pháp kịp thời tránh những xu hướng phát triển quá lệch và khuyến khích các xu hướng phát triển có lợi cho xã hội. Những cách làm như thế đều đang được thực hiện khắp nơi trên thế giới.

    Lệnh Lỗi Dương

    ID: B0612_16