• Thứ Tư, 13/12/2006 14:26 (GMT+7)

    Địa Tin Học phục vụ dân sinh

    Nhân hội thảo “Phát triển mới nhất trong công nghệ viễn thám và GIS” do bộ môn Địa Tin Học (ĐTH) - ĐH Bách Khoa TP.HCM phối hợp cùng hội Trắc Địa Bản Đồ TP.HCM tổ chức ngày 14/11/2006, tạp chí TGVT - PCW VN trao đổi thêm với TS Lê Văn Trung, chủ nhiệm bộ môn, phó chủ tịch hội Trắc Địa Bản Đồ TP.HCM về ĐTH cũng như khả năng vận dụng ĐTH vào cuộc sống.

    Nhân hội thảo "Phát triển mới nhất trong công nghệ viễn thám và GIS" do bộ môn Địa Tin Học (ĐTH) - ĐH Bách Khoa TP.HCM phối hợp cùng hội Trắc Địa Bản Đồ TP.HCM tổ chức ngày 14/11/2006, tạp chí TGVT - PCW VN trao đổi thêm với TS Lê Văn Trung, chủ nhiệm bộ môn, phó chủ tịch hội Trắc Địa Bản Đồ TP.HCM về ĐTH cũng như khả năng vận dụng ĐTH vào cuộc sống.

    Thầy có thể giới thiệu sơ nét về bộ môn ĐTH và sự phát triển của ĐTH tại ĐH Bách Khoa TP.HCM?

    ĐTH bắt nguồn từ trắc địa bản đồ (TĐBĐ), một ngành dựa trên cơ sở toán học, xử lý thống kê và công nghệ đo đạc. Khi CNTT ra đời và trở thành công cụ đắc lực về xử lý hệ thống số liệu cực kỳ lớn (huge data), ví dụ dữ liệu toàn cầu thu qua ảnh viễn thám hay dữ liệu chi tiết như vị trí công trình, nhà đất thì TĐBĐ phát triển theo hướng mới - ĐTH (Geomatic Engineering).

              TS Lê Văn Trung

     

    Nếu trước đây, TĐBĐ chủ yếu cung cấp thông tin, số liệu cho các cơ quan Nhà Nước thì nay, ĐTH đã vươn vai phục vụ vấn đề dân sinh trong vận chuyển (xác định vị trí, thời gian, tình trạng đối tượng...), quản lý đánh bắt cá, theo dõi tình trạng của những động vật quý hiếm... Nói chung, ĐTH có thể cung cấp dữ liệu về một đối tượng theo thời gian, không gian, dựa trên những dữ liệu thu thập được.

    Bộ môn ĐTH được thành lập tại ĐH Bách Khoa TP.HCM năm 2004 (tiền thân là bộ môn TĐBĐ). Những lĩnh vực đào tạo của bộ môn hiện nay là: trắc địa, bản đồ, không ảnh, GIS (hệ thống thông tin địa lý), GPS (hệ thống định vị toàn cầu). Hiện nay, số lượng sinh viên đăng ký vào bộ môn này tăng cao gấp 5 lần ở cao học và 10 lần ở ĐH so với thời điểm còn là bộ môn TĐBĐ. Đó là do sinh viên thấy được những công nghệ mới trong ngành và phạm vi ứng dụng rộng lớn phục vụ dân sinh. Trường hiện nhận 120 SV/năm cho bộ môn này, trong đó có 30 SV cao học và 4 nghiên cứu sinh.

    Thầy nhắc nhiều đến khả năng phục vụ dân sinh của ĐTH, mong thầy nói rõ hơn?

    Một vài vấn đề dân sinh có thể ứng dụng ĐTH là cấp giấp sử dụng đất, san lấp – quy hoạch trên địa bàn thành phố... cụ thể là cung cấp ảnh vệ tinh, đồng thời so sánh với dữ liệu bản đồ có sẵn để xem xét sự biến đổi của đối tượng theo thời gian. Câu hỏi "TP.HCM có hiện tượng lún hay không?" cũng có thể dùng ĐTH giải đáp. Hiện tôi cùng nhiều thầy khác đang theo đuổi đề tài cấp quốc gia này qua việc sử dụng ảnh giao thoa vệ tinh viễn thông chụp TP.HCM từ trước đến nay để xác định những vị trí lún hoặc trồi lên. Kết quả này sẽ cho phép hình thành những giải pháp liên quan đến nhu cầu đô thị hóa, khai thác nước ngầm, khoáng sản và lượng nước bù đắp (tự nhiên hay nhân tạo) cho TP.HCM để TP phát triển bền vững.

    Một ví dụ khác, tại Hà Nội, ĐTH đang được vận dụng cho dự án số hóa bản đồ Thăng Long cổ (TGVT - PCW VN B 2/2006; trang 22 có viết về dự án này - PV) giúp xác định sự thay đổi về địa lý xưa và nay của Hà Nội, lật lại quá trình phát triển các làng nghề và tiến trình đô thị hóa của Hà Nội. Hiện tại TP.HCM cũng có dự án tên là "Atlas tổng hợp" đang chờ phê duyệt. Dự án này cũng có một số chuyên đề tương tự như dự án ở Hà Nội nhưng không có sự so sánh xưa và nay. Với nguồn tư liệu là những bản đồ cổ của thành phố trong tiến trình 300 năm phát triển của một số giáo sư tâm huyết, kết hợp với những tư liệu cổ trong thư viện, bảo tàng..., nếu dự án được duyệt, người dân thành phố sẽ có cơ hội nhìn được sự phát triển của cả thành phố qua 300 năm. Vấn đề ở đây là chủ trương chính sách, còn về mặt công nghệ và nhân lực, TP.HCM hoàn toàn có thể tự thực hiện với kinh phí không quá lớn.

    Quay trở lại vấn đề đào tạo ĐTH, theo thầy đâu là khó khăn của bộ môn này?

    Hiện nay, các trường đào tạo theo kiểu truyền đạt những gì thầy biết cho trò chứ không tập trung vào những điều mà xã hội, cuộc sống cần. Do đó, người thầy phải biết tự cập nhật môn học, lĩnh vực mới. Thầy giáo, sinh viên cần tham gia nhiều hơn các hội thảo khoa học, tìm hiểu thêm tình hình phát triển công nghệ trên thế giới để biết được nhu cầu của cuộc sống, trang bị cho mình kiến thức, công nghệ, phương pháp đào tạo mới.

    Trang thiết bị cho bộ môn ĐTH chỉ được đầu tư nhỏ giọt. Nhưng điều này có thể khắc phục bằng cách nhà trường tăng cường phối hợp với các cơ quan sản xuất và những nhà nghiên cứu khoa học trong những dự án khoa học. Khi kết hợp như vậy sẽ có một số kinh phí đầu tư trang thiết bị. Chẳng hạn, phòng thí nghiệm ĐTH của trường đã được Nhật Bản tài trợ thiết bị về GPS và phần mềm giải đoán ảnh vệ tinh, ảnh 3D để nghiên cứu độ lún của thành phố và lập những bản đồ dự báo lũ... Những PM này nếu mua phải mất vài chục ngàn USD. Việc sử dụng PM kết hợp với đầu tư chất xám từ phía thầy cô, sinh viên sẽ đem lại hiệu quả rất cao so với kinh phí bỏ ra để đầu tư phòng thí nghiệm.

    Phối hợp với doanh nghiệp cũng là một định hướng không thể bỏ qua. Hiện nay, thông qua hội TĐBĐ TP.HCM, chúng tôi nắm được nhu cầu của DN, đơn vị xí nghiệp để từ đó tiếp nhận ý tưởng, công nghệ và đưa ra giải pháp với sự đầu tư kinh phí từ phía DN. Chẳng hạn, để đưa bản đồ số vào PDA (thiết bị cầm tay) hoặc thiết bị định vị gắn trên xe hơi, công ty Vietmap cần thiết lập hệ thống tham chiếu nhưng lại không phân biệt được sự giống và khác nhau giữa hệ tham chiếu VN2000 mà VN đang sử dung với hệ WGPS84 trên PDA của thế giới. Ngược lại, những vấn đề này các nhà khoa học trẻ của bộ môn lại rất am hiểu. Và sự phối hợp nhà trường - DN đã kịp thời được hình thành, từ đó cho kết quả khả quan.

    Theo thầy thì ĐTH đã có thể bước từ phòng thí nghiệm vào DN và ra cuộc sống. Đây đúng là tin vui. Nhưng để tiến trình này mạnh mẽ hơn, chúng ta cần thêm điều kiện gì?

    Khó khăn cho ứng dụng ĐTH trong cuộc sống là thiếu dữ liệu nền. Bản đồ số dùng định vị hay quản lý đối tượng nào đó... thì cần được tham chiếu theo một chuẩn chung và được thường xuyên cập nhật. Tại TP.HCM, dữ liệu số đã có (do Sở Tài Nguyên Môi Trường quản lý) nhưng chưa có chính sách chia sẻ thông tin trong lĩnh vực này cho DN. DN muốn mua thông tin "chính thống" để phát triển ứng dụng riêng nhưng hầu như chưa được nên phải gia công lại từ những bản đồ giấy, rất vất vả. Nếu dữ liệu được phổ biến (chỉ là những chuẩn chung) thì khả năng xã hội hóa ứng dụng ĐTH sẽ tăng nhanh, những bài toán định vị để tối ưu hóa quản lý điểm bán hàng, tiết kiệm nguyên liệu trong vận chuyển... sẽ được DN tham gia giải quyết nhiều hơn.

    Huyền Sa - Quốc Triệu thực hiện

    ID: B0612_49