• Thứ Sáu, 29/12/2006 14:24 (GMT+7)

    2006: Năm "mở đầu" ấn tượng cho CNTT-TT Việt Nam

    Sau hơn mười năm phát triển, CNTT-TT Việt Nam đã có một năm 2006 đầy khởi sắc. Nếu những kế hoạch 5 năm trước thường được thực hiện với năm đầu mang tính khởi động thì trong thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, năm đầu tiên đã khép lại với tính chất không chỉ khởi động rất tốt mà còn đã đạt được rất nhiều kết quả...

    Thị trường trang thiết bị đầu cuối phong phú hơn, rộng khắp hơn

    Minh hoạ: Thị trường CNTT-TT Việt Nam 2006 hết sức sôi động

    Năm 2006, xuất khẩu cũng như nhập khẩu thiết bị tin học đều vượt xa ngưỡng 1 tỷ USD: 11 tháng đầu năm 2006, Việt Nam đã đạt doanh số 2,406 tỷ USD từ xuất khẩu và nhập khẩu (trong khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm 2005 là 2,284 tỷ USD).

    Chỉ tiêu đạt 6-7 tỷ USD doanh thu từ công nghiệp CNTT-TT Chính Phủ đề ra cho năm 2010 bao gồm cả doanh thu từ công nghiệp thiết bị viễn thông (700 triệu); điện tử công nghiệp và dân dụng (2 tỷ USD), phần mềm và dịch vụ (1,2 tỷ USD) chứ chỉ tính riêng phần cứng CNTT thì chỉ cần đạt 3 tỷ USD là sẽ hoàn thành kế hoạch của 2010 dành cho công nghiệp phần cứng.

    Từ doanh số xuất khẩu sẽ đạt khoảng 1,250 tỷ USD cộng với doanh số sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước ước đạt trên 200 triệu USD, có thể suy ra doanh thu công nghiệp phần cứng 2006 gần đạt chừng 1,5 tỷ USD và khả năng đạt được 3 tỷ từ công nghiệp phần cứng vào năm 2010 là rất tiềm tàng. Thị trường vĩ mô có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tiêu dùng cuối.

    Thị trường đáp ứng nhu cầu đầu cuối trở nên phong phú và rộng khắp hơn. Trong đó, một nửa tổng thị trường nhập khẩu đạt được trong năm dành cho nhu cầu trong nước, hơn một nửa kia dùng cho sản xuất để xuất khẩu). Nhiều công ty máy tính Việt Nam tham gia cung cấp sản phẩm để đảm bảo nhu cầu gia tăng rất nhanh của các đơn vị trong nước. Mặt khác, các nhà sản xuất máy tính trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh rất mạnh từ các hãng máy tính đa quốc gia đầy tiềm lực.

    Ở mặt hàng máy tính để bàn, theo hiệp hội các nhà sản xuất máy tính VN thì thị phần của họ được khoảng 85% – 90%, còn lại thuộc về các công ty đa quốc gia. Nhưng, tình thế lại đảo ngược với thị trường máy tính xách tay (MTXT).

    Phần mềm & dịch vụ: Có nhiều khả năng sẽ đạt được mục tiêu ở 2010

    Những yếu tố tác động thúc đẩy thị trường ngày một nhiều hơn

    Theo sở BCVT TP.HCM, TP.HCM năm 2005 có khoảng 400 DN phần mềm và dịch vụ. Năm 2006 có hơn 600 DN chuyên ngành này. Theo cục Thuế TP.HCM, doanh số phần mềm trên địa bàn năm 2005 khoảng 80 triệu USD (cả nước 190 triệu USD), năm 2006 ước đạt 110 - 120 triệu USD. TP.HCM phấn đấu đến năm 2010 đạt doanh số phần mềm và dịch vụ 450 – 500 triệu USD. 

    Nếu cứ theo đà tăng trưởng gần như gấp rưỡi hiện nay (như trên địa bàn TP.HCM) mà suy thì doanh thu từ công nghiệp phần mềm và dịch vụ đến năm 2010 của TP.HCM cũng đạt cỡ 500 triệu USD vào năm 2010. Và, nếu coi tỷ lệ 80/190 của năm 2005 là một căn cứ so sánh thì với khoảng 500 triệu USD đạt được từ thị trường phần mềm và dịch vụ của riêng TP.HCM năm 2010, cả nước có khả năng cầm chắc 1,2 tỷ USD từ công nghiệp này.

    Nếu thị trường phần cứng ít chịu ảnh hưởng của việc Việt Nam gia nhập WTO thì thị trường phần mềm và dịch vụ có nhiều khả năng chịu ảnh hưởng lớn, có khi đột biến (theo chiều hướng tốt cho công nghiệp phần mềm). Vào khoảng cuối thời kỳ kế hoạch 5 năm hiện hữu, Việt Nam đã hoàn tất những cam kết chính để hội nhập với WTO. Từ nay đến đó, những động thái nhằm khắc phục tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm sẽ đẩy thị trường phần mềm và dịch vụ lên một mức cao hơn. Ngoài việc các hãng phần mềm đa quốc gia (có công ty chi nhánh tại Việt Nam), các công ty sản xuất phần mềm trong nước sẽ thu hoạch khá nhờ bán phần mềm thương mại; các công ty làm đại lý phân phối phần mềm hay cung cấp dịch vụ, trong đó có những dịch vụ về phần mềm nguồn mở cũng sẽ có nhiều cơ hội mới.

    Mảng khai thác những giá trị gia tăng trên Internet và các môi trường khác cũng khởi sắc trong năm 2006. Cả nước hình thành một thị trường game trực tuyến sôi động, dù còn nhiều khó khăn nhưng chưa thấy DN kinh doanh game trực tuyến nào có ý định bỏ cuộc mà ngược lại, ngày một thêm nhiều số công ty nhảy vào kinh doanh dịch vụ này. Ở những trung tâm kinh tế lớn, đã hình thành một lối làm việc mới – hoàn toàn hoặc chủ yếu dựa vào trực tuyến. Trong môi trường như vậy, loại hình dịch vụ bảo mật mạng (đảm bảo an ninh mạng) phát triển bùng nổ.

    Tạo dựng những điều kiện tốt để phát triển cả phần cứng lẫn phần mềm…

    Cam kết đầu tư 1 tỷ USD vào Việt Nam, Intel trở thành một trong các nhãn hiệu nổi tiếng nhất thị trường CNTT-TT VN năm 2006
    Hiện tại, ở Việt Nam, một trong các ngành đào tạo được quan tâm nhiều nhất là CNTT. Các bậc phụ huynh có con em theo học các trường THPT bây giờ luôn có lựa chọn xem xét năng lực của chúng “có theo được ngành CNTT-TT hay không”. Sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành CNTT-TT thường có việc làm với thu nhập khá, hưởng thu nhập vào mức 200USD một tháng ngay khi mới đi làm. Các đối tượng được đào tạo bài bản bởi những chương trình có yếu tố nước ngoài, tức là có sự tham gia giảng dạy của các chuyên gia công nghệ từ các công ty đa quốc gia hoặc chí ít cũng là các chương trình xây dựng theo công nghệ và chương trình huấn luyện của nước ngoài.

    Đào tạo nhân lực vẫn đi theo hai hướng chính: đào tạo chuyên viên kỹ thuật, chuyên viên mạng mạng; đào tạo những lập trình viên… Nếu khoảng 5 năm trước, dịch vụ mạng mới chỉ bắt đầu thì bây giờ, một trong những tiêu chuẩn đầu tiên với các kỹ thuật viên CNTT-TT là phải thông thạo các công việc về mạng. 

    Về nhân lực phần mềm, năm 2005, TP.HCM có khoảng 7.000 người, năm 2006 ước đạt 10.000 người và dự kiến năm 2010, TP.HCM có khoảng 40.000 người làm phần mềm, theo sở BCVT TP.HCM. Năng suất bình quân của lập trình viên tại Công Viên PM Quang Trung được xác định là khoảng 10.000 – 15.000 USD một năm. Mới thấy mức lương khởi điểm của người được đào tạo chuyên ngành CNTT-TT vào 200 USD một tháng hoàn toàn có căn cứ.

    “Tình hình sản xuất phần mềm rất khó tính trước. Một DN phần mềm có thể chỉ cần 50 – 70 nhân viên trong năm thứ nhất, nhưng có thể cần tới 200 – 300 nhân viên trong năm tiếp theo và đến năm kế tiếp cần cả nghìn nhân viên” – đại diện sở BCVT TP.HCM nói. Cho nên, việc xây dựng những toà nhà, khu đô thị công nghệ để đảm bảo diện tích làm việc cho các công ty phần mềm sẽ khởi sắc. Điều này với CVMPQT đang là tất yếu, với các khu vực khác cũng sẽ như vậy.

    Tạm thời, việc khánh thành hay khởi công xây dựng một toà nhà công nghệ được coi như một sự kiện quan trọng, nhưng theo dự đoán trong thời gian gần kề, việc đó sẽ chỉ là những sự kiện bình thường. Bởi, hiện nay, những toà nhà công nghệ đều chủ yếu dành cho các công ty công nghệ nhưng trong tương lai gần, cả những công ty ứng dụng công nghệ ở mức cao đều phải làm việc trong những toà nhà với đầy đủ tiện nghi như vậy. Cần biết rằng việc kết nối viễn thông cũng đã phát triển rất tốt trong năm 2006 với kỷ lục phát triển được hơn 10 triệu thuê bao điện thoại trong chỉ một năm. Kết nối Internet băng rộng cũng chứng kiến sự bùng nổ...

    Việt Nam được WTO kết nạp hôm 7/11/2006 thì trong khuôn khổ của Hội Nghị Cấp Cao APEC 2006 tổ chức tại Hà Nội ngay sau đó, hàng loạt hợp đồng kinh tế quy mô hàng tỷ USD đã được ký kết giữa các tập đoàn đa quốc gia với các công ty Việt Nam. Kể cả cam kết đầu tư vào khu Công Nghệ Cao Hoà Lạc từ phía các công ty Nhật Bản và cam kết nâng vốn đầu tư vào khu Công Nghệ Cao TP.HCM ngay khoảng thời gian này của Intel, về CNTT-TT, trị giá các hợp đồng và cam kết đầu tư đã khoảng 3 tỷ USD. Đây là con số rất lớn, trước nay, thị trường CNTT-TT Việt Nam chưa hề gom góp được trong những khoảng thời gian tính bằng nhiều năm.

    2006 không kết thúc tốt đẹp kế hoạch 5 năm cũ mà mở đầu kế hoạch 5 năm mới hứa hẹn hoành tráng hơn!

    Nguyễn Như Dũng

    ID: O0612_1