• Thứ Ba, 08/05/2007 16:46 (GMT+7)

    Vận hành kinh doanh liên tục

    Trong hai tháng 3 và 4/2007, các tập đoàn CNTT hàng đầu thế giới và các đối tác Việt Nam đã tập trung giới thiệu các giải pháp về trung tâm dữ liệu (data center), hệ thống máy chủ, phần mềm nhằm đảm bảo khả năng tối ưu hóa và vận hành liên tục của doanh nghiệp

    Trong hai tháng 3 và 4/2007, các tập đoàn CNTT hàng đầu thế giới và các đối tác Việt Nam đã tập trung giới thiệu các giải pháp về trung tâm dữ liệu (data center), hệ thống máy chủ, phần mềm nhằm đảm bảo khả năng tối ưu hóa và vận hành liên tục của doanh nghiệp

    Tối ưu hóa hạ tầng với Microsoft IOI

    Ngày 6/4/2007, tại TP.HCM, công ty HPT và Microsoft đã tổ chức buổi hội thảo về tối ưu hạ tầng CNTT (Infrastructure Optimization Initiative- IOI) cho các tổ chức tài chính - ngân hàng. Theo ông Nguyễn An Quế, chuyên gia công nghệ của Microsoft Việt Nam, doanh nghiệp ngày nay luôn mong muốn cung cấp được nhiều dịch vụ hơn và ngày càng giảm đi chi phí vận hành hệ thống hiện có. Ông trích dẫn số liệu từ một nghiên cứu của Accenture: hiện nay, doanh nghiệp đang đầu tư 30% để triển khai các dịch vụ mới và 70% để bảo trì hệ thống, trong khi họ mong muốn dành 45% nguồn lực cho dịch vụ mới và 55% cho bảo trì hệ thống. Theo ông Quế, trong bối cảnh cạnh tranh ngày nay, khả năng cung cấp dịch vụ mới luôn là công cụ cạnh tranh đắc lực của các ngân hàng; và câu trả lời của Microsoft chính là các mô hình tối ưu hạ tầng CNTT từ mô hình cơ sở (Basic), đến tiêu chuẩn (Standardized), mở rộng (Rationalized) và linh động (Dynamic).

    Nếu như Basic là hạ tầng CNTT rời rạc, thủ công, “ngốn” chi phí thì mô hình Standardized tuy có tốn kém nhưng hiệu quả hơn với khả năng tự động hóa bước đầu. Nếu doanh nghiệp đạt được cấp độ 3 – Rationalized - thì hạ tầng CNTT được “quản lý tập trung và tự động hóa ở mức tối đa”. Đỉnh cao nhất của Microsoft IOI chính là Dynamic: “Hệ thống được quản trị tự động hoàn toàn, sử dụng tài nguyên linh động, có kiểm soát chất lượng dịch vụ”. Đến lúc này, CNTT trở thành “tài sản chiến lược” của doanh nghiệp. Cách giải thích của này của ông Quế, càng làm rõ hơn ý nghĩa tên của dòng giải pháp “Dynamic” của Microsoft dành cho doanh nghiệp.

    Công ty HPT, đối tác vàng của Microsoft, cũng đã thành lập “phòng Dịch Vụ và Giải Pháp Microsoft” gồm 15 nhân viên tại HN và TP.HCM, để triển khai Microsoft IOI. Theo ông Nguyễn Quốc Dũng, trưởng bộ phận này, thì “hệ thống thông tin tại đa số doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu do đội ngũ CNTT tự xây dựng nên không có tài liệu kỹ thuật và phụ thuộc nhiều vào cá nhân quản trị và phát triển tự phát theo quy mô doanh nghiệp...”. Những vấn đề nói trên gây cản trở cho việc tối ưu hệ thống doanh nghiệp.

    Đã có một số công ty đã áp dụng mô hình Microsoft IOI như HT Mobile, Techcombank ... Ông Bùi Quang Dũng, trưởng phòng điện toán khu vực phía Nam của Techcombank cho biết: “Chúng tôi đã áp dụng thành công mô hình IOI cho toàn hệ thống. Giờ đây, hệ thống server tập trung, chính sách quản lý tập trung, dễ dàng phân cấp người dùng, việc phát triển các điểm giao dịch mới trở nên dễ dàng hơn”.

    Nếu như Microsoft chủ yếu cung cấp thông tin liên quan đến phần mềm của doanh nghiệp thì IBM, HP và các đối tác khác tập trung vào các giải pháp hạ tầng phần cứng.

    Mô hình HACMP của IBM

     

    Trung tâm dữ liệu của DN bạn có nhiều dây điện như thế này hay không? Thiết kế này không được các hãng (HP, Emerson, Cisco...) ủng hộ.

    Tuy nghe khô khan nhưng thuật ngữ HACMP ẩn chứa giải pháp cho nhu cầu lớn của DN: Dự phòng rủi ro. Trong suốt thời gian một DN hay nhà máy hoạt động, có những lúc hệ thống phải ngừng hoạt động theo dự kiến hoặc ngoài dự kiến. “Việc ngưng chạy hệ thống rất khó tránh”, diễn giả đến từ IBM Singapore giải thích, “90% nguyên nhân của việc ngừng hệ thống là do kế hoạch của DN: nâng cấp phần cứng, phần mềm, sửa chữa, sao lưu dữ liệu, kiểm tra, phát triển... Trong khi đó, 10% còn lại nằm ngoài dự kiến: lỗi quản trị, lỗi phần mềm ứng dụng, lỗi phần cứng (<1%), thảm họa từ bên ngoài, thiên nhiên (<1%)”. Như vậy, để đảm bảo công việc kinh doanh luôn liên tục, DN cần phải giảm thiểu được cả 2 loại thời gian ngưng hệ thống trong và ngoài dự kiến; và nếu như năng lực này càng cao thì chính là độ sẵn sàng của DN càng cao. HACMP – từ viết tắt của cụm từ “High Availability Cluster Multiprocessing” (Đa xử lý cụm có độ sẵn sàng cao) - chính là một giải pháp ứng dụng nhằm đảm bảo độ sẵn sàng cao cho các DN đã triển khai các hệ thống máy chủ dự phòng (cluster).

    Các chuyên gia công nghệ của IBM đưa ra một ví dụ về ứng dụng máy chủ dự phòng (cluster) và HACMP. Giả sử một DN đã thiết lập hệ thống cluster ở TP.HCM và Hà Nội, nếu hệ thống tại TP.HCM gặp sự cố, toàn bộ DN sẽ chuyển sang chạy ứng dụng và sử dụng dữ liệu được sao lưu trên máy chủ dự phòng. Khi hệ thống tại TP.HCM phục hồi, DN có thể quyết định quay về chạy và xử lý các tác vụ trên hệ thống tại TP.HCM hoặc tiếp tục chạy trên máy chủ tại Hà Nội. Đây chỉ là ví dụ về 1 hệ thống HACMP 2 điểm (node). Giải pháp này của IBM có năng lực hỗ trợ đa điểm. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là HACMP chỉ hỗ trợ các máy chủ System P của IBM chạy hệ điều hành AIX, ngoài ra các máy chủ Linux (Red Hat™ Enterprise Linux (RHEL) 4 và SUSE™ LINUX Enterprise Server (SLES) 9) với các tính năng hạn chế hơn AIX.

    HP bàn về trung tâm dữ liệu

    Vấn đề nóng nhất của các trung tâm dữ liệu (TTDL), theo HP, chính là việc làm mát môi trường, khả năng tản nhiệt. Sự xuất hiện của các máy chủ phiến mỏng (blade server) trong môi trường DN từ năm 2005 lại đi cùng với nỗi lo về việc làm mát hệ thống.

    Ông J.Toon, chuyên viên công nghệ bộ phận HP Dịch Vụ, cho biết: “Chi phí thuê chỗ để đặt TTDL chỉ chiếm 9% tổng chi phí sở hữu của một TTDL. Trong khi đó, DN thường phải chi đến 63% tổng chi phí sở hữu cho các thiết bị điện và hệ thống làm mát”. Ông Harry Hong- phụ trách khách hàng chiến lược của Emerson khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nói thêm: “DN có thể sẽ mua các máy chủ phiến mỏng (MCPM) đời mới về đặt cạnh các máy chủ đời cũ trong TTDL; nhưng nhiệt độ do các MCPM tạo ra nhiều khi sẽ lan ra tòan bộ không gian này”.

    Để giải quyết vấn đề này cho DN, HP đưa ra giải pháp phân tích nhiệt bằng phần mềm 3D Computational Fluids Dynamics. Dựa trên các kết quả này, DN/tổ chức sẽ biết cần thiết kế lại TTDL sao cho phù hợp; từ việc lắp đặt các hệ thống làm mát, máy điều hòa CRAC (Computer Room Air Condition) đến hình thành các luồng khí nóng, lạnh trong TTDL... Còn Emerson giới thiệu các thiết bị, quạt dạng “plug and play”, cho phép gắn ngay tại các điểm nóng trong TTDL và tản nhiệt một cách tiện dụng.

    Các chuyên gia của HP và Emerson cho biết, các mô hình làm mát TTDL của họ đều dựa trên 4 cấp độ sẵn sàng do viện Uptime Institute của Mỹ qui định. Theo ông J.Toon, ở cấp độ 4 (tier 4)- cấp độ cao nhất - TTDL sẽ chỉ phải ngưng chạy trong 0,4 giờ/ năm so với các con số tương ứng 28,8 giờ , 22 giờ, 1,8 giờ của các cấp độ 1,2,3. Tuy nhiên, các chuyên gia nhấn mạnh, hệ thống có độ sẵn sàng cao thì chi phí cũng tăng tương ứng.

    Mô hình tản nhiệt sử dụng các luồng khí nóng (hot aisle) và lạnh (cold aisle) của Emerson.

    Phi Quân

    ID: B0705_52