• Thứ Ba, 10/07/2007 10:54 (GMT+7)

    Gia công xuất khẩu phần mềm: Làm gì để đạt mục tiêu?

    Cần làm gì để đạt được chỉ tiêu mà Thủ Tướng Chính Phủ đặt ra cho ngành phần mềm (PM): tổng doanh thu PM và dịch vụ PM đạt trên 800 triệu USD vào năm 2010, trong đó tỷ lệ xuất khẩu ít nhất 40% (theo quyết định 51, ngày 12/4/2007)?

    Cần làm gì để đạt được chỉ tiêu mà Thủ Tướng Chính Phủ đặt ra cho ngành phần mềm (PM): tổng doanh thu PM và dịch vụ PM đạt trên 800 triệu USD vào năm 2010, trong đó tỷ lệ xuất khẩu ít nhất 40% (theo quyết định 51, ngày 12/4/2007)?

    Đừng sợ “làm thuê”
    Ông Lê Thanh Hải, giám đốc Marketing, FPT Software TP.HCM


    Nhiều người gọi gia công xuất khẩu PM là “làm thuê”. Quan điểm của tôi là chúng ta đừng sợ đi “làm thuê”. Dù gì cũng phải tạo công ăn việc làm, dauy trì DN trước đã. Không nên cứ lo sợ đi làm thuê để rồi cuối cùng thất nghiệp vẫn không giảm. Phát triển công nghiệp PM (CNpPM) cần tùy từng giai đoạn. Nếu chưa đủ năng lực sản xuất PM đóng gói lớn thì nên làm gia công. Hãy tận dụng quá trình đó để học tập công nghệ. Không phải ai cũng làm được PM đóng gói ngay. Trung Quốc trong một thời gian dài cũng vậy. Hiên tại, sau khi học tập công nghệ từ nhiều công ty Nhật, Trung Quốc đang dần dần có những chính sách “gạt” các công ty Nhật ra ngoài. Vấn đề hiện nay là cần tập trung vào đào tạo đủ nhân lực nhận những hợp đồng lớn. Đào tạo của Việt Nam hiện còn rất kém. Cần đào tạo trọng tâm hơn, và không nên dựa vào hệ thống trường công với những giáo trình cũ không theo kịp thực tế để rồi cuối cùng sinh viên tốt nghiệp DN vẫn phải đào tạo lại.

    Nhật vẫn là thị trường số một
    Ông Ngô Đức Chí, giám đốc điều hành Global CyberSoft


    Cần đặt mục tiêu phấn đấu lọt vào top ten của thế giới về gia công xuất khẩu PM. Còn trong mỗi hợp đồng, DN phải tính đến khả năng lấy được (charge) từ khách hàng bao nhiêu tiền? Nghĩa là cần quan tâm đến chất lượng gia công. Các công ty Việt Nam cũng nên liên kết với nhau trong các hiệp hội và không nên “phá giá” khi thỏa thuận hợp đồng.

    Không nên chừa thị trường nào khi tìm kiếm hợp đồng gia công xuất khẩu. Nhưng Nhật vẫn nên là thị trường được quan tâm số một. Bất kỳ người Nhật nào tôi đưa đến Việt Nam đều rất thích, muốn ở lại lâu dài, trong khi họ không muốn ở lại Ấn Độ. Đó là lợi thế về văn hóa mà ta cần tận dụng. Tuy nhiên khách hàng Nhật cần người biết tiếng Nhật. Khách hàng là thượng đế. Nếu khách hàng Nhật cần mà ta không đáp ứng được, họ sẵn sàng qua Trung Quốc, Ấn Độ.

    Con đường gia công xuất khẩu PM rất rộng. Chỉ cần nhìn vào thị trường Nhật: thuê ngoài (outsource) 3 tỷ USD/ năm mới thấy là trong cái biển mêng mông đó ta chưa được gì. Chỉ cần 10% của 3 tỷ USD đó là có thể hoàn thành chỉ tiêu về doanh số PM xuất khẩu. Điều quan trọng là tiếp cận như thế nào?

    Đào tạo kỹ sư cầu nối Nhật - Việt: Đào tạo tiếng Nhật cho kỹ sư Việt Nam, cho thực tập tại Nhật là một cách làm hay. Nhưng cần phải đảm bảo một kỹ sư cầu nối sẽ trở lại Việt Nam đào tạo tiếp cho 20 kỹ sư khác. Nếu không có cơ chế, quy ước ngay từ đầu, người được đào tạo không có gì ràng buộc có thể chọn ở lại Nhật làm việc thì chương trình mất ý nghĩa. Ngoài ra, hiện nay một kỹ sư CNTT phải được đào tạo đến 2 năm mới thành thạo tiếng Nhật. Vậy tại sao ta không đào tạo kỹ thuật CNTT cho những người đã biết ngoại ngữ Nhật.

    Đào tạo luân chuyển
    Ông Ngô Văn Tẩu, giám đốc công ty Runsystem


    Công ty tôi mới thành lập được 2 năm và đang làm cho thị trường Nhật, chủ yếu là gia công thiết kế web và ứng dụng trên điện thoại cầm tay. Gia công cho thị trường nào cũng vậy, yếu tố đầu tiên là phải giao tiếp được. Làm cho Nhật thì phải biết tiếng Nhật. Nếu không nói được hay không truyền đạt được hết yêu cầu thì khách hàng sẽ không tin tưởng.

    Tôi có thời gian đi học và làm việc tại Nhật nên may mắn nói thạo tiếng Nhật và có một số khách hàng từ đầu. Tuy nhiên khi lượng hợp đồng tăng thì số nhân viên biết tiếng Nhật cũng phải tăng. Tôi chọn cách đào tạo luân chuyển: mở thêm văn phòng Nhật và gửi người sang. Quy mô nhỏ nên mỗi lượt chỉ có thể gửi 2-3 người để làm việc với người có trình độ cao hơn ở đó. Sau 1 năm, cho họ về và gửi người mới sang. Những người về nước có đủ trình độ hỗ trợ, quản lý nhóm 10 nhân viên mới khác. Cứ thế tiếp tục... Lượng người có khả năng làm việc cho các dự án được thuê outsource từ Nhật sẽ tăng thêm. Công ty chúng tôi không thu hút khách hàng bằng giá rẻ mà bằng chất lượng. So với các công ty gia công khác, giá của chúng tôi cao hơn nhưng ngược lại, chúng tôi giao tiếp được bằng tiếng Nhật, khách hàng yên tâm hơn. 80 người ở công ty tôi thì khoảng 10 người biết tiếng Nhật, trong đó có 6 người nói tiếng Nhật rất tốt. Hợp đồng lớn nhất đã hoàn thành là khoảng 200 nghìn USD. Khách hàng của hợp đồng này đã trở lại với hợp đồng lớn hơn... Trong hiệp hội DN PM Việt Nam (Vinasa) hiện có câu lạc bộ các DN làm cho thị trường Nhật, phần lớn là DN nhỏ như chúng tôi. CLB là một hình thức tốt để kết nối DN và chia sẻ những hợp đồng lớn.

    Giống Ấn Độ 20 năm trước
    Ông Hoàng Lê Minh, phó giám đốc Sở Bưu Chính Viễn Thông TP.HCM

    Ngành CNpPM Ấn Độ 20 năm trước (giai đoạn 1986-1996) khá tương đồng với Việt Nam hiện nay. Năm 1986, Ấn Độ có vài chục công ty xuất khẩu PM, trong đó chỉ 5 công ty có doanh số PM xuất khẩu đạt trên 3 triệu USD. Tuy nhiên, 5 năm sau (1991), Ấn Độ có trên 600 công ty PM xuất khẩu, trong đó 100 công ty đạt doanh số trên 3 triệu USD/năm. Các công ty PM quy mô lớn như Tata Consultancy Services, Tata Unisys, Infosys, Wipro... chiếm trên 50% thị phần xuất khẩu PM của Ấn độ. Các công ty PM có quy mô nhỏ hơn chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa, nơi mà các đòi hỏi về chất lượng PM không quá cao, có khả năng phát triển nhanh, đa dạng, lại không cần vốn đầu tư lớn.

    Nhưng khác với Ấn Độ (ở giai đoạn 1986-2000) đã phát triển ngành CNpPM chủ yếu dựa vào xuất khẩu, thiếu hẳn đi yếu tố kích thích tiêu dùng của thị trường nội địa lớn, thì ở Trung quốc cách đây 10 năm (giai đoạn 1996-1997) và Việt Nam hiện nay (2007), thị trường tiêu thụ PM và dịch vụ nội địa đang trở nên rất phong phú, đa dạng. TP.HCM cần phải phát triển song song cả 2 thị trường: PM đóng gói và PM xuất khẩu, không nên chọn riêng phát triển cái nào. Nhà Nước cần định hướng và hỗ trợ. Đến nay Nhà Nước vẫn chưa làm được các việc đó nên hạn chế phát triển, làm cho DN thiếu định hướng, sự tự tin, thiếu thị trường. Có thể thấy qua kinh nghiệm các nước, đặt biệt là Israel, Nhà Nước cần đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu phát triển; các vườm ươm công nghệ; hỗ trợ DN xây dựng thương hiệu, xúc tiến, thông tin, nâng cao quản lý chất lượng, quy trình quản lý chất lượng.

    Sợ bị “ru ngủ” về thị trường Nhật
    Ông Nguyễn Hữu Lệ, công ty TMA

    Năm 2005 chúng ta nói nhiều đến thị trường Nhật. Nhưng trong 3 năm nay, doanh số thu lại từ thị trường này không như dự đoán. Theo tôi, cả nước hiện chỉ có khoảng 1.000 lập trình viên (LTV) làm cho thị trường Nhật. Nếu còn đề cập nhiều đến thị trường Nhật, tôi lo rằng các DN có thể bị “ru ngủ”.

    TMA tập trung vào gia công PM cho thị trường Bắc Mỹ, với các đối tác lớn là Nortel, Alcatel-Lucent... Công ty hiện có hơn 800 LTV. Để tập hợp được các nhóm LTV lớn, TMA tuyển dụng 5-10% ứng viên giỏi nhất, 30% ứng viên tiếp theo có thể được tuyển dụng và đào tạo trong vòng 6 - 12 tháng. TMA đang xin phép thành lập ĐH TMA và chọn hướng đầu tư vào giáo dục và đào tạo để đảm bảo nguồn cung cấp nhân lực chất lượng cao cho hoạt động của mình.

    Tham gia dịch vụ BPO
    Ông Đào Xuân Ánh, giám đốc điều hành NCS


    BPO (Business Process Outsourcing) là hoạt động chuyển giao một phần công việc lặp lại trong quy trình kinh doanh của 1 tổ chức cho các nhà cung cấp bên ngoài, nhằm mục đích giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ. Nhu cầu thuê BPO của các công ty tại các nước phát triển rất lớn. Sớm tìm kiếm khách hàng theo hướng này, chúng tôi đã thu được nhiều hợp đồng để duy trì và phát triển công ty. Chúng tôi chuyên nhập liệu cho khách hàng Nhật. Các dự án hiện tại là nhập dữ liệu bản đồ ứng dụng trong hệ thống dẫn đường trên ôtô và chỉnh sửa, số hóa ảnh viễn thám.

    Cải tiến quy trình liên tục
    Ông Ngô Hùng Phương, tổng giám đốc FCG


    FCG đã hơn 11 năm làm gia công PM tại Việt Nam. Giai đoạn đầu rất vất vả và cũng không có những mối quan hệ sẵn có. Tuy nhiên, hiện công ty đã có 650 kỹ sư và nhiều hợp đồng giá trị. Kinh nghiệm của FCG là phải làm tốt từ hợp đồng đầu tiên để tạo ấn tượng cho khách hàng. Ngoài ra, phải cải tiến quy trình theo chuẩn quốc tế để khách hàng tin tưởng. Hiện công ty đã đạt chuẩn CMMI mức 5 cho phát triển PM, TL 9000 R4 hệ thống quản lý chất lượng cho viễn thông, ISO 27001 cho hệ thống quản lý bảo mật.

    Đầu mối xúc tiến thương mại

    Phỏng vấn nhanh ông Phan Trí Dũng, phó cục trưởng cục Xúc Tiến Thương Mại, bộ Thương Mại

    Kim ngạch xuất khẩu của PM Việt Nam so với các ngành khác như thế nào, thưa ông?

    Theo tôi, kim ngạch xuất khẩu PM năm nay đạt 110 triệu USD là vẫn còn khiêm tốn so với khả năng tiềm lực sẵn có của chúng ta. Bức tranh ngành CNTT nói chung và CNpPM nói riêng còn rời rạc, thiếu tính hiệp đồng, năng lực tài chính và nhân lực không theo kịp nhu cầu, nhân lực thiếu ngoại ngữ, sản phẩm và thị trường mục tiêu chưa hài hòa về tiêu chuẩn và chất lượng. Ngành cần có chiến lược xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại hợp lý.

    Năm nay, bộ Thương Mại có những hành động cụ thể gì để thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu PM?

    Bộ Thương Mại có chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại không phân biệt ngành có kim ngạch nhỏ hay lớn. Hiện nay, Bộ có chương trình xúc tiến thương mại quốc gia năm 2007 (kèm theo quyết định 279279/2005/QĐ-TTg). Các công ty CNTT muốn tham gia chương trình này có thể thông qua các đầu mối là hiệp hội DN Điện Tử Việt Nam hay hội Tin Học Việt Nam, hiệp hội DN PM VN. Bộ sẽ quan tâm tới ngành PM Việt Nam, tạo điều kiện cho DN vừa và nhỏ, đặc biệt là các DN CNTT tham gia trực tiếp vào các chương trình thương mại quốc gia thông qua các đầu mối tổ chức của chương trình như đã nói ở trên.

    Bộ Thương Mại có chương trình dành riêng cho TP.HCM để thúc đẩy xuất khẩu PM tại đây không? Hội Tin Học TP.HCM (HCA) có là 1 đầu mối của chương trình quốc gia của Bộ không, thưa ông?

    HCA là thành viên tham gia trong chương trình quốc gia chứ không phải là đầu mối. Nhưng HCA là đầu mối cấp địa phương vì quyết định 279 có quy định rằng các địa phương được trích nguồn thu của địa phương để đưa vào quỹ hỗ trợ xuất khẩu. Như vậy Chính Phủ đã tạo cơ chế cho các hội tiếp cận nguồn kinh phí từ địa phương.

    Ngọc Khánh

    ID: B0707_16