• Thứ Sáu, 20/07/2007 16:08 (GMT+7)

    CNTT không ràng buộc!

    Cục Xuất Bản bộ VHTT đã đạt được thoả thuận với ISBN về cấp mã số quốc gia cho sách Việt Nam (604). Điều này mang lại nhiều thuận lợi, tạo điều kiện cho ngành kinh tế xuất bản sách phát triển.

    Bản tin đưa về việc này giải thích: Trước đây, khi chưa có mã số này, sách Việt Nam khi đưa ra nước ngoài phải đóng lại bìa rồi in mã số của nước sở tại hoặc phải xuất bản với sự liên kết của các nhà xuất bản (NXB) nước ngoài để có mã số quốc tế. Với việc được cấp mã số của ISBN (International Standard Book Number), sách của Việt Nam đã có thể phát hành thuận lợi thông qua Internet. Thêm vào đó, khách hàng cũng tin cậy hơn vào các ấn phẩm xuất xứ từ Việt Nam... Việc xuất khẩu sách Việt Nam ra thị trường quốc tế đã thuận lợi hơn!

    Phục vụ quản lý…

    ISBN 10 chữ số gồm các nhóm số chỉ vùng ngôn ngữ hay quốc gia, NXB, tiêu đề sách và số đối chiếu. EAN viết tắt từ cụm "European Article Number".
    Các khoa học gia Nga thường có những kiến giải khác thường về nhiều hiện tượng thiên nhiên cũng như các vấn đề xã hội. www.pravda.ru là một nhật báo điện tử hàng đầu của Nga thường khai thác khá sâu các công trình khoa học tầm cỡ. Một nhóm khoa học gia Nga dành công sức tính toán lại mức tăng dân số thế giới cho đến giữa thế kỷ 21 và hài lòng với con số trên dưới 10 tỷ. Họ đặt vấn đề: “Vì sao, chỉ trong vòng một thế kỷ rưỡi, dân số thế giới có thể tăng gấp 10 mà tình trạng hỗn loạn lại giảm đi đáng kể?”. (Thế kỷ 20, thế giới đã phải chứng kiến rất nhiều cuộc chiến đẫm máu). Và họ tự trả lời, đại ý như sau: Do có sự ra đời và phát triển vũ bão của CNTT. Trong thời đại thông tin, bằng CNTT, loài người đã quản lý tốt hơn bất kỳ một thời đại nào trước đó…

    Bây giờ là lúc không cần giải thích vai trò của quản lý mà là cần tiếp tục giới thiệu những công cụ phục vụ công việc cực kỳ quan trọng này. Chúng ngày càng hợp lý (kể cả về chi phí sở hữu), mạnh mẽ, thân thiện (với cả môi trường sinh thái) và dễ sử dụng hơn. CNTT là quy trình xử lý thông tin một cách tự động. Xử lý thông tin bao gồm thu thập, xử lý, lưu trữ và lan truyền thông tin. Xử lý thông tin tự động khác với “thủ công” ở tính công nghiệp, hàng loạt, lặp lại không giới hạn. Xử lý thông tin một cách thủ công không bao giờ đạt được năng suất, chất lượng như vậy. Mặc dù còn rào cản khiến quá trình chuyển từ xử lý thông tin thủ công lên xử lý thông tin tự động khó khăn nhưng rào cản đó ngày càng bớt đi vai trò của nó. Nếu như phát minh máy in cách đây vài thế kỷ được cho là phát minh quan trọng nhất thì công nghệ in nhờ sắp chữ, dàn trang… trên máy tính là một phát minh quan trọng bậc nhất tiếp theo.

    Nhờ có CNTT, việc in ấn, xuất bản về phương diện kỹ thuật được giải phóng năng lực vô hạn. Từ một ý tưởng ra đến bản thảo, từ bản thảo biên tập thành nội dung tốt và từ đây đến những cuốn sách có chất lượng đều là những quá trình diễn ra hết sức nhanh chóng. Vì vậy, số đầu sách vốn đã rất nhiều sẽ còn gia tăng theo cấp số nhân. Việc Việt Nam được cấp mã số sách quốc gia ngoài những điều đã giải thích ở trên còn chứng tỏ Việt Nam sẽ quản lý được công nghiệp xuất bản sách, một nền công nghiệp có thị trường đầu ra thuận lợi trên phạm vi toàn cầu. Dĩ nhiên, sách không chỉ bao gồm mã quốc gia 604 mà còn nhiều con số đi cùng nó nữa…. Và, người ta đã có thể tìm lại nơi xuất bản, từ đó lần ra giấy phép, tác giả, bản thảo hay nhà in một cách dễ dàng hơn bao giờ hết nhờ vào mã số sách đó. Với phần mềm máy tính, công việc quản lý xuất bản sẽ dễ hơn nhiều.

    Thực tế thị trường sách Việt Nam hiện nay vẫn còn điểm tối: Thị trường phát triển nhưng chất lượng sách chưa được đảm bảo ở nhiều đầu sách, nhất là những đầu sách phát hành ngoài hệ thống nhà sách. Quản lý kinh tế trên thị trường sách cũng quan trọng không kém quản lý nội dung vì thị trường sách phải phát triển lành mạnh thì chất lượng nội dung của sách mới được đảm bảo. Quản lý thị trường sách bằng CNTT sẽ dễ dàng hơn bao giờ hết trong những vấn đề liên quan đến quyền tác giả: Sách nào in ngoài luồng? Người nào chép sách của tác giả khác? Bên cạnh đó là việc quản lý số lượng in, giá bìa… Tất cả đều dễ dàng phát hiện để xử lý sau vài thao tác chuột, phím…

    CNTT không ràng buộc!

    Minh hoạ: Hệ thống ISBN 13 chữ số hiện hành.
    Hầu hết những đối tượng bắt đầu tin học hoá rất sợ bị lệ thuộc vào công nghệ. Thực sự thì từ khi có kết nối Internet tốc độ cao, nhiều doanh nghiệp, tổ chức đã chuyển phần lớn công việc lên “online” (làm việc trực tuyến). Gặp lúc mạng rớt hay mất điện, doanh nghiệp hay tổ chức gần như tê liệt. Một ví dụ đơn giản hơn, điện thoại di động (ĐTDĐ) cũng là một sản phẩm “ruột” của CNTT, thuộc hàng Hi-Tech (công nghệ cao). Nhiều dòng sản phẩm này còn nuôi chí cạnh tranh trực tiếp với máy tính, máy ảnh, máy ghi âm, máy nghe nhạc, radio… Thế nhưng, ngay cả những người chỉ dùng vào mục đích thoại hay thoại + tin nhắn SMS không may để quên hay làm hư, đánh mất ĐTDĐ cũng đều cảm thấy mình phần nào “tê liệt” – không thể yên tâm làm việc được. Đó là những ví dụ minh chứng tồn tại sự lệ thuộc vào công nghệ ở thời kỳ đầu của tin học hoá.

    Làm gì để giảm thiểu sự lệ thuộc công nghệ? Ở giai đoạn tiếp theo, tuỳ từng quy trình sản xuất kinh doanh, tính chất công việc và mức độ sử dụng mà người ta nêu được những chuẩn bắt buộc đi kèm để đảm bảo chất lượng ứng dụng CNTT. Các nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet (ISP) chắc chắn phải có những tiêu chuẩn khắt khe với những hạng mục tối quan trọng như điện, như an toàn và an ninh cả "cứng" lẫn "mềm" với hệ thống máy chủ, trung tâm tích hợp dữ liệu… Thời gian gián đoạn điện sẽ tính bằng một phần nhỏ của giây. Việc này tựa như tiêu chuẩn thời gian mất điện tối đa với các bệnh viện (các phòng mổ và hồi sức cấp cứu không thể mất điện) 30 năm trước là 30 giây, sau đó giảm xuống còn không đáng kể… Với hệ thống đường truyền, không thể để tái diễn tình trạng cắt trộm cáp (với kết nối có dây) và không thể để tình trạng trộm dung lượng đường truyền (với kết nối không dây ở quy mô lớn tương lai).

    Các ISP không thể không cam kết tốc độ kết nối tối thiểu với khách hàng, kể cả khách hàng đại chúng. Doanh nghiệp, tổ chức tùy nhu cầu, khả năng sẽ có những đối sách đảm bảo hệ thống của mình vận hành tốt 99,9999% so với toàn thời trước khi điện lực quốc gia chuyển sang thế “thừa hơn thiếu”. Và, nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý, điều hành khác.

    Với những công cụ cầm tay như ĐTDĐ, PDA…, người dùng sẽ ngày càng chủ động hơn. Trước mắt, để tránh lệ thuộc, “không bỏ tất cả trứng vào một giỏ”: Danh bạ điện thoại cũng như mọi thông tin quan trọng nằm trong các công cụ cầm tay đã nêu đều cần được (định kỳ và thường xuyên) sao lưu sang máy tính, gửi lên mạng (có dịch vụ này). Hoặc, có thể cứ cập nhật thủ công danh bạ vào một file excel nào đó cũng rất tốt… Ngoài ra, ĐTDĐ tiện hơn điện thoại cố định để thiết lập liên lạc, tuy nhiên cũng đừng vì vậy mà người dùng quên lưu những số điện thoại cố định, cần phải đề phòng ĐTDĐ của người cần liên lạc hết pin nữa chứ!

    Hiện tại, đã có rất nhiều người thích sử dụng “hồ sơ mềm” hơn “hồ sơ cứng” vì sử dụng các “soft file” linh hoạt hơn nhiều. Tuy nhiên, với những trường hợp đặc biệt quan trọng hay với những người dùng quá cẩn thận, việc sử dụng song song hai loại hồ sơ bao giờ cũng đem lại một sự chủ động to lớn. Về tương lai, khi mà các chuẩn kèm theo cho việc tin học hoá được đảm bảo, khả năng ứng dụng và làm chủ công nghệ sẽ là vô hạn và mọi người sẽ không còn bị lệ thuộc vào công nghệ nữa. Những “hồ sơ cứng” có thể sẽ ít hơn nhiều so với số hồ sơ mềm. Nhưng, với sách, báo, tạp chí thì khác. Đọc (các ấn phẩm truyền thống) là một nét văn hoá…

    12 năm trước, IDG dự báo cơ cấu tiêu dùng thông tin nhờ các ấn phẩm truyền thống và nhờ CNTT (đọc trên máy…) thế kỷ 21 là 50/50. Vào trường hợp “xấu nhất”, thị trường sách giữa thế kỷ 21 vẫn có... 5 tỷ người tiêu dùng thường xuyên!

    Nguyễn Như Dũng

    ID: O0707_1