• Thứ Ba, 04/09/2007 16:14 (GMT+7)

    Chỉ số sẵn sàng kết nối: Việt Nam tụt hạng

    TỤT THÊM 7 HẠNG

    Báo cáo CNTT Toàn Cầu 2006-2007 (The Global Information Technology Report 2006-2007) được công bố giữa năm 2007. Đây là báo cáo được Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (World Economic Forum – WEF) công bố hàng năm kể từ năm 2001, với nội dung chính là phân tích và xếp hạng các nước về mức độ sẵn sáng kết nối (Networked Readiness Index - NRI). Đây là một trong các chỉ tiêu xếp hạng các quốc gia về CNTT được đánh giá là có mức độ chính xác cao hiện nay, được xem là một công cụ hiệu quả để đánh giá điểm mạnh, yếu cũng như sự phát triển về CNTT của từng nước với số liệu chi tiết về 122 quốc gia liên quan đến 67 tiêu chí khác nhau.

    Năm 2006-2007, xếp hạng NRI của Việt nam là 82 trên 122 nước với điểm số là 3.40 (điểm tối đa là 7). So với xếp hạng 2005-2006 (xếp thứ 75 trên 115 nước), Việt Nam tụt 7 hạng. Trong 6 lần xếp hạn, NRI của Việt Nam tăng hạng từ 74 lên 71, rồi 68, sau đó 2 năm liền mỗi năm tụt 7 hạng (xem bảng).

    TIÊU CHÍ XẾP HẠNG

    Các tiêu chí để tính NRI được chia thành 3 nhóm chính liên quan đến môi trường, mức độ sẵn sàng và mức độ ứng dụng. Nhóm “Môi trường” chia thành 3 nhóm con: thị trường, pháp lý và hạ tầng. Với hai nhóm “Mức độ sẵn sàng” và “Mức độ ứng dụng”, mỗi nhóm chia thành 3 nhóm con theo cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ. Mỗi nhóm con có nhiều tiêu chí cụ thể. Các nhóm con được cho điểm, sau đó lấy trung bình cộng để thành điểm nhóm chính, cuối cùng lấy trung bình cộng điểm các nhóm chính để thành điểm NRI.

    Điểm cho từng nhóm con được tính trên điểm của các tiêu chí, điểm các tiêu chí có thể là số liệu cứng lấy từ các báo cáo thống kê quốc tế hoặc quốc gia, có thể là số liệu mềm dựa vào thăm dò ý kiến các chuyên gia (cho điểm từ 1 - thấp nhất đến 7 – cao nhất).

    Trong 67 tiêu chí, chỉ có 29 tiêu chí liên quan trực tiếp đến CNTT-TT. Hơn một nửa số tiêu chí còn lại liên quan đến giáo dục, khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa và chính sách. Điều này cũng thể hiện quan điểm của WEF là CNTT-TT không chỉ đơn thuần liên quan đến CNTT-TT mà còn bị ảnh hưởng và chi phối mạnh bởi rất nhiều yếu tố khác.

    VÌ SAO VIỆT NAM TỤT HẠNG

    Trong 67 tiêu chí để xếp hạng, năm nay WEF bổ sung thêm 12 tiêu chí mới (đồng thời bỏ đi một số tiêu chí khác). Các tiêu chí bổ sung là:

    Môi trường - Thị trường

    • Xuất khẩu công nghệ cao

    • Mức độ tự do báo chí

    Môi trường – Pháp lý

    • Số thủ tục hành chính cần thiết để một hợp đồng có hiệu lực

    • Thời gian cần thiết để một hợp đồng có hiệu lực

    Môi trường – Hạ tầng


    • Chất lượng các phòng nghiên cứu

    • Tỷ lệ sinh viên

    Sẵn sàng – Cá nhân

    • Giá cước sử dụng đường băng thông rộng tốc độ cao

    • Giá cước truy cập băng thông rộng 100 kbits/s

    • Giá sử dụng điện thoại di động

    Sẵn sàng – Doanh nghiệp

    • Giá trị nhập khẩu máy tính, thiết bị viễn thông và các dịch vụ khác

    Ứng dụng – Cá nhân

    • Số đăng ky Internet băng rộng

    Ứng dụng – Chính phủ

    • Mức độ và tính hiệu quả của việc sử dụng CNTT-TT

    Một trong các nguyên nhân tụt hạng của Việt Nam là bị đánh giá không cao trong đa số các tiêu chí bổ sung. Trong bảng xếp hạng, có một nước mới được bổ sung (Barbados) và xếp hạng 40, một số nước năm trước xếp sau Việt Nam nhưng năm nay có thứ hạng tốt hơn (Macedonia, Algeria, Guatemala, Peru, Marocco, Ucraine, Serbia, Dominican) – cũng có 2 nước (Pakistan, Namibia) năm trước hơn Việt Nam nhưng năm nay xếp sau Việt Nam.

    Trong báo cáo của WEF cũng xếp nhóm các nước dựa trên GDP đầu người, gồm 5 nhóm: dưới 2000 USD, 2000-3000 USD, 3000-9000 USD, 9000-17000 USD và trên 17000 USD. Các nước nhóm thấp (dưới 2000 USD) nói chung thứ hạng NRI không cao. Qua đó có thể thấy có sự liên quan mật thiết giữa mức độ phát triển kinh tế và NRI. Với mức độ phát triển kinh tế thấp, khó có thể có thứ hạng NRI cao được. Việt Nam là một trong 44 nước thuộc nhóm thấp này (GDP/đầu người< 2000 USD), trong nhóm chỉ có một quốc gia được xếp hạng NRI trên 50 là Ấn Độ (44).

    Số liệu sử dụng trong báo cáo của WEF thông thường lấy trong các năm 2005, 2006 trở về trước. Vì vậy nếu so sánh với số liệu của Việt Nam hiện nay (2007) thì đã có không ít sai lệch. Tuy nhiên do số liệu các nước khác nói chung cũng như vậy nên không ảnh hưởng nhiều đến thứ hạng.

     

    NRI CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM

     
      Năm     Số nước     Thứ hạng NRI của Việt nam  
      2001-2002     75     74  
      2002-2003     82     71  
      2003-2004     102     68  
      2004-2005     104     68  
      2005-2006     115     75  
      2006-2007     122     82  

    Lê Trường Tùng

    ID: B0709_7