• Thứ Tư, 05/09/2007 07:02 (GMT+7)

    Nhìn lại xếp hạng của EIU

    Kết quả đánh giá Việt Nam xếp thứ 61/64 nước về năng lực cạnh tranh trong công nghiệp CNTT do EIU công bố dù có chính xác hay không vẫn đáng để chúng ta suy nghĩ. Điều quan trọng không phải ở thứ hạng mà ở bước phát triển tương lai.

    Kết quả đánh giá Việt Nam xếp thứ 61/64 nước về năng lực cạnh tranh trong công nghiệp CNTT do EIU công bố dù có chính xác hay không vẫn đáng để chúng ta suy nghĩ. Điều quan trọng không phải ở thứ hạng mà ở bước phát triển tương lai.

    Chưa hoàn toàn chính xác

    Tôi cho rằng chúng ta không nên quá bi quan về đánh giá thứ hạng của EIU (Tổ Chức Thông Tin Kinh Tế Thế Giới) trong bối cảnh chỉ số cạnh tranh toàn cầu cũng như các chỉ số khác về hạ tầng, độ sẵn sàng chính phủ điện tử của Việt Nam (VN) do các tổ chức khác công bố đều bị tụt hạng trong năm qua. Lời cảnh tỉnh đúng lúc bao giờ cũng có ích.

    Trước hết, đây là một chỉ số mới do EIU xây dựng theo đơn đặt hàng của Liên Minh Phần Mềm Doanh Nghiệp (BSA). Phương pháp luận xây dựng chỉ số EIU có vấn đề về mặt mô hình toán học.

    Chỉ số này được xây dựng trên 6 nhóm tiêu chí gồm 25 chỉ tiêu. Có một số chỉ tiêu định lượng được bình quân theo dân số, rồi được xếp theo tương quan giữa các nước. Sau đó, các chỉ tiêu định tính và định lượng đều được chấm điểm theo thang điểm từ 0-5 (mức độ so sánh tương đối). Trong mỗi nhóm tiêu chí, các chỉ tiêu đều được gán một trọng số có tính mô hình để lấy kết quả trung bình và chuẩn hóa lại theo thang điểm 0-100 để tính chỉ số của mỗi nhóm. Mỗi nhóm lại có một trọng số lấy từ mức độ tương quan của CNTT với tăng trưởng năng suất lao động. Chỉ số cuối cùng được lấy trung bình của các chỉ số nhóm với trọng số nói trên.

         

    Chỉ số EIU lần này sẽ có ích nếu chúng ta nghĩ thật sâu và hành động tích cực hơn về R&D, mở cửa thị trường buôn bán và tăng cường tích lũy các tài sản sở hữu trí tuệ.

       

    Tuy nhiên, mỗi nước sẽ có các tham số tương quan khác nhau. Mặt khác, số liệu do EIU sử dụng không đồng bộ theo thời gian (50% số liệu định tính là từ năm 2004, còn lại là 2005, 2006). Vì vậy, cách tính trung bình theo trọng số như trên chỉ có tính tương đối.

    Mặt khác, cách đánh giá so sánh tương đối giữa các nước rồi chuyển qua thang điểm có tính định tính là chưa được chuẩn về toán học. Nếu tính lại các chỉ số nói trên với cùng cách tính, nhưng chỉ giới hạn trong một nhóm và chuẩn hóa lại theo nhóm này (lấy nước có thứ hạng cao nhất trong mỗi chỉ số làm chuẩn). Thử tính lại cho một số nước trong khu vực châu Á, chúng tôi thu được các chỉ số trong bảng phía dưới.
    Chúng ta thấy có sự đảo vị trí ở hầu hết tất cả các nước so với xếp hạng của EIU, trừ vị trí dẫn đầu của Malaysia. VN xếp trên Pakistan, phù hợp với xếp hạng về chỉ số cạnh tranh kinh tế toàn cầu và chỉ số sẵn sàng kết nối do Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF) công bố. Nếu tính lại trong nhóm chỉ có 3 nước VN, Sri Lanka và Pakistan, sẽ tiếp tục có sự đảo vị trí giữa VN và Sri Lanka phù hợp với chỉ số cạnh tranh toàn cầu.

    Tại sao có hiện tượng đó? Cần lưu ý, các nước đều đạt điểm cao ở tiêu chí môi trường cạnh tranh, do đó độ giãn cách rất lớn, chênh nhau vài điểm là chuyện bình thường cho dù không hơn kém nhau bao nhiêu. Ở tất cả các tiêu chí khác, đặc biệt là nghiên cứu và phát triển (R&D) hay hạ tầng, mặc dù chỉ số của VN hơn Pakistan, Sri Lanka nhiều lần, nhưng vì so với các quốc gia tiên tiến lại quá thấp (dưới 1%) do đó hiệu số chênh lệch chỉ vài phần nghìn điểm, không đáng kể so với chỉ số môi trường cạnh tranh. Vì vậy, chỉ số của EIU cho xếp hạng không phù hợp với chỉ số cạnh tranh toàn cầu và các chỉ số về CNTT.

    Chúng ta còn có thể bàn nhiều về nhóm các chỉ tiêu còn phiến diện chưa thực sự phản ánh chính xác khả năng cạnh tranh về công nghiệp (CNp) CNTT. Như vậy, chúng ta không phải quá lo lắng vì xếp ở thứ hạng gần cuối trong bảng xếp hạng của EIU.

    Những gợi ý

    Ở các tiêu chí về môi trường cạnh tranh, môi trường pháp lý, hỗ trợ phát triển, VN đạt điểm trong khoảng 40-50%. Tuy là dưới mức trung bình nhưng có thể chấp nhận được. Về nhân lực, vấn đề bị “kêu ca” nhiều nhất, VN đạt 22,5%. Tuy đây là một kết quả đáng buồn nhưng còn chưa bị thế giới bỏ quá xa như các chỉ số còn lại. Các điểm về hạ tầng và R&D, VN chỉ đạt mức độ rất thấp là 0,6% và 0,4%.

    Nói đến CNp là phải nói đến sản phẩm và khả năng mở rộng thị trường. VN chưa định hình được sản phẩm CNTT có tính cạnh tranh và đặc thù, năng lực mở cửa thị trường còn kém, chủ yếu thấy ở đâu dễ làm thì ào tới. Giá trị của ngành CNp CNTT là ở mức tăng trưởng nhanh nhờ tích lũy và sử dụng lại được nhiều lần các giá trị sở hữu trí tuệ (Tham khảo: “Tạo vốn cho quỹ phát triển CNTT”, TGVT B tháng 3/2006, trang 19). Không có R&D, làm sao có thể sản sinh ra các giá trị này?

    Ngay từ năm 2004, trong một phiên họp của Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT, trưởng ban, Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của R&D. Tuy nhiên, công tác R&D vẫn bị các cơ quan quản lý xem nhẹ trong khâu lập kế hoạch và chiến lược. Các doanh nghiệp vẫn lờ R&D vì nhiều lý do. Các cơ quan nghiên cứu hoặc đầu tư nghiên cứu viển vông, không phục vụ phát triển sản phẩm, hoặc tiến hành các hoạt động thực tế tầm thường, không tạo ra được giá trị sở hữu trí tuệ nào có giá trị thực tiễn. Có lẽ việc công bố chỉ số EIU lần này sẽ có ích nếu chúng ta suy nghĩ thật sâu sắc về vấn đề tổ chức công tác R&D, cơ chế chuyển giao các kết quả R&D vào CNp, mở cửa thị trường buôn bán và tăng cường tích lũy các tài sản sở hữu trí tuệ.

    Khi tài sản sở hữu trí tuệ có giá trên thị trường, các cơ quan nghiên cứu sẽ hướng các hoạt động của mình vào việc tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hơn.

      MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CHÂU Á  
            Môi trường kinh doanh     Hạ tầng     Môi trường pháp lý     R&D     Nhân lực     Hỗ trợ phát triển     Chỉ số     Hạng  
      Trung Quốc     61.8     48.5     92.5     100.0     90.1     73.4     79.2     2  
      Ấn Độ     78.9     3.0     90.6     31.8     100.0     82.4     57.9     4  
      VN     63.2     3.6     74.5      18.2     45.2     65.6     37.9     8  
      Thái Lan     100.0     38.8     74.5     22.7     96.2     95.6     64.5     3  
      Malaysia     96.1     100     100.0     81.8     88.1     100.0     92.7     1  
      Phillippines     89.5     13.3     97.2     18.2     82.1     82.4     54.7     5  
      Indonesia     67.1      0.0     73.6     27.3     73.8      73.3     46.6     6  
      Sri Lanka     78.9     3.0      87.7     0.0     65.9     88.5     43.7     7  
      Pakistan     77.6      2.4     77.4     9.1     39.1     62.6     35.5     9  

    Nguyễn Ái Việt

    ID: B0709_9