• Thứ Tư, 10/10/2007 08:06 (GMT+7)

    Những sự kiện nổi bật trong tuần từ 2 đến 8/10/2007

    Không nhiều doanh nghiệp CNTT có tên trong danh sách 200 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam. Dự án sản xuất máy tính xách tay của Compal tại Vĩnh Phúc chính thức được trao giấy phép. Chính thức triển khai mở rộng diện thực hiện thông quan điện tử. Công nghiệp CNTT cần được coi là ngành kinh tế mũi nhọn. Các sai phạm trong việc triển khai thực hiện đề án 112 không phải là sai phạm của cả đề án.

    Ngày 1/10/2007, chương trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã tổ chức công bố danh sách 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam dựa trên các tiêu chí về lao động, tài sản, doanh thu và nộp thuế. Tuy nhiên, UNDP không khảo sát với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đứng đầu danh sách là ngân hàng NN và PTNT (Agribank). Tiếp sau đó là tập đoàn BCVT Việt Nam (VNPT). Trong danh sách topten có 3 doanh nghiệp viễn thông là VNPT, Bưu Điện TP.HCM và tổng công ty Viễn Thông Quân Đội (Viettel). Còn trong top 200 cũng chỉ có 8 doanh nghiệp điện tử viễn thông và CNTT. Ông Jonathan Pincus – chuyên gia kinh tế của UNDP nhận xét, các doanh nghiệp Việt Nam không đánh giá cao việc đầu tư vào công nghệ và phát triển kỹ năng nguồn nhân lực. Theo ông, còn lâu lắm Việt Nam mới có được những doanh nghiệp sánh vai thế giới. Việc mà Việt Nam cần phải làm là đầu tư vào công nghệ và năng lực chất xám. Việc Việt Nam có trở thành nền kinh tế sáng tạo, đổi mới hay không sẽ quyết định chất lượng và cơ cấu nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Nhận xét về con số doanh nghiệp CNTT khiêm tốn trong danh sách, TS Lê Trường Tùng - chủ tịch hội Tin Học TP.HCM cho rằng số liệu năm 2003 không phản ánh đầy đủ thực trạng của doanh nghiệp CNTT và điện tử viễn thông vì từ đó đến nay đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, theo ông, thực tế nếu căn vào các số liệu cập nhật hơn thì vị thế của CNTT trong top 200 cũng sẽ không thay đổi bao nhiêu. Bởi lẽ tuy số lượng doanh nghiệp CNTT Việt Nam có nhiều nhưng phần đa chỉ có quy mô vừa và nhỏ. Điều này sẽ vẫn tồn tại trong nhiều năm nữa.

    Ngày 4/10/2007 tại tỉnh Vĩnh Phúc, dự án xây dựng khu liên hợp sản xuất máy tính xách tay trị giá 500 triệu USD của tập đoàn Compal (Đài Loan) đã chính thức được trao giấy phép đầu tư. Đây là dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất trong lĩnh vực công nghệ cao của Vĩnh Phúc cũng như các tỉnh phía Bắc. Dự án sẽ được triển khai trên diện tích 100 ha tại khu Công Nghiệp Bá Thiện, huyện Bình Xuyên với quy mô sản xuất 24 triệu máy tính/năm và dự kiến sẽ xuất khẩu 100%. Dự kiến, dự án sẽ hoàn thành giai đoạn I vào tháng 3/2009, thu hút khoảng 40.000 lao động trực tiếp và gián tiếp. Được  biết, bên cạnh dự án của tập đoàn Compal, sẽ có khoảng 50 nhà đầu tư khác vào Vĩnh Phúc hoạt động để cung cấp linh phụ kiện với số vốn khoảng 1 tỷ USD. 

    Theo quyết định của bộ Tài Chính, kể từ ngày 1/10/2007 thủ tục hải quan điện tử tại TP.HCM và Hải Phòng đã mở rộng đối tượng tham gia. Tuy nhiên, việc triển khai tại TP.HCM chưa thể thực hiện như kế hoạch vì lỗi hệ thống. Khó khăn hiện tại là chương trình phần mềm đang áp dụng chưa đáp ứng được việc mở rộng các loại hình thủ tục và đối tượng tham gia. Tình trạng lỗi hệ thống và đường truyền vẫn thường xảy ra gây ảnh hưởng đến việc làm thủ tục và thông quan hàng hoá cho doanh nghiệp. Ngày 4/10/2007, tổng cục Hải Quan đã có cuộc họp báo về triển khai giai đoạn II dự án thông quan điện tử. Để chủ động, tổng cục Hải Quan đã ban hành các quy định về quy trình thủ tục hải quan điện tử, quy chế quản lý rủi ro, chuẩn bị nguồn nhân lực, ban hành danh mục hàng hoá XNK để đưa vào sử dụng phần mềm quản lý rủi ro theo quyết định 52/2007/QĐ-BTC của bộ Tài Chính. Đề án sẽ mở rộng đối tượng tham gia thủ tục hải quan điện tử, không chỉ là các doanh nghiệp XNK thông thường mà cả với loại hình doanh nghiệp gia công, tạm nhập tái xuất, các đại lý khai thuê hải quan, đại lý vận tải. Sự cố tại TP.HCM cũng đã được khắc phục và được biết, trong 3 ngày đầu tiên triển khai kể từ 1/10/2007, chi cục Hải Quan Điện Tử Hải Phòng đã tiếp nhận và xử lý 51 tờ khai; chi cục Hải Quan Điện Tử TP.HCM xử lý 207 tờ khai.

    Ngày 4/10/2007, bộ TTTT đã có cuộc họp về công tác quản lý nhà nước với công nghiệp CNTT. Bên cạnh nhiều nội dung thảo luận về cải thiện cơ chế chính sách nhất là chính sách thuế và đặc thù của đào tạo nhân lực, được biết cuối năm 2007, bộ TTTT sẽ chính thức ra mắt viện Công Nghiệp Phần Mềm và Nội Dung Số đã được Chính Phủ cho phép thành lập tháng 7/2007. Theo báo cáo của vụ Công Nghiệp CNTT, ngành công nghiệp CNTT Việt Nam hiện là ngành kinh tế mũi nhọn với doanh thu 3 tỷ USD năm 2006 trong đó công nghiệp điện tử và máy tính chiếm tới 2 tỷ USD. Doanh thu phần mềm là 350 triệu USD trong đó thị trường nội địa là 250 triệu USD và công nghiệp nội dung số là 110 triệu USD. Bộ trưởng Lê Doãn Hợp đánh giá, những thành tựu của công nghiệp CNTT vẫn còn khiêm tốn, không xứng đáng với tiềm năng, lợi thế cả về con người và thời cuộc của Việt Nam. Chính vì vậy, bộ trưởng đề nghị đẩy mạnh tuyên truyền, nhận thức coi công nghiệp CNTT là ngành kinh tế mũi nhọn là lợi thế vốn có của Việt Nam và là “bà đỡ” của ứng dụng CNTT.

    Cũng không thể không nhắc đến việc Liên Xô phóng vệ tinh đầu tiên đã tròn 50 năm (5/10/1957 – 5/10/2007). Nhận sự kiện này, trung tâm Văn Hoá và Khoa Học Nga tại Hà Nội đã tổ chức một cuộc triển lãm về những thành tựu khoa học mà Liên Xô là nước đã đi đầu. Trước thời điểm Việt Nam chính thức có vệ tinh riêng, sự kiện này gợi lại cho chúng ta những kỷ niệm về chuyện Việt Nam lần đầu tiên kết nối viễn thông quốc tế qua vệ tinh năm 1980 với trạm vệ tinh mặt đất Hoa Sen do Liên Xô tặng. Tới nay, tuy ngành viễn thông Việt Nam đã sử dụng những trang thiết bị và công nghệ hết sức hiện đại nhưng những gì mà Liên Xô đã giúp đỡ cho Việt Nam thời kỳ ấy là không thể nào quên.

    Trở lại với những chuyện hậu sự của đề án 112, ngày 3/10/2007, văn phòng Chính Phủ đã có văn bản truyền đạt ý kiến của phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng chỉ đạo Kiểm Toán Nhà Nước thực hiện kiểm toán theo thẩm quyền và quy định của luật Kiểm Toán. Trước đó, ngày 17/8/2007, Kiểm Toán Nhà Nước đã có báo cáo đầy đủ về kết quả kiểm toán đề án 112, đồng thời đưa ra những kiến nghị xử lý đối với một số vấn đề có liên quan. đề án 112 được Thủ Tướng quyết định ngừng triển khai từ cuối tháng 4/2007 và yêu cầu thực hiện kiểm toán. Đến nay, cơ quan điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam một số đối tượng có liên quan. Xét đề nghị của bộ TTTT, ngày 5/10/2007, thủ tướng Chính Phủ đã đồng ý để bộ TTTT tiếp nhận nguyên trạng bộ máy giúp việc của ban điều hành đề án cùng những kết quả của đề án. Theo đó, ban điều hành đề án 112 tiếp tục sử dụng các cơ sở vật chất hiện có để làm việc. Tại phiên họp thường kỳ của Chính Phủ ngày ngày 6/10/2007, bên cạnh nhiều vấn đề bức xúc mà điển hình là vụ sập cầu Cần Thơ đang thi công, đề án 112 cũng đã được thảo luận. Theo báo cáo của Văn Phòng Chính Phủ, tổng kinh phí được duyệt của đề án 112 là 3.836,85 tỷ đồng, tổng mức được cấp phát là 1.534,325 tỷ đồng. Tính đến nay, đề án 112 đã sử dụng 1.159,636 tỷ đồng và còn lại 374,689 tỷ đồng. Về mặt hành chính, đề án có nhiều yếu kém không được sửa chữa, khắc phục trong thời gian dài. Ban điều hành đề án cũng không thực hiện đúng chế độ báo cáo định kỳ theo quy định, dẫn tới việc các cấp lãnh đạo không nhận được thông tin đầy đủ, để có biện pháp xử lý kịp thời. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá, các sai phạm trong việc triển khai thực hiện đề án 112 không phải là sai phạm của cả đề án. Việc bộ Công An khởi tố vụ án vừa qua là khởi tố những hành vi có dấu hiệu tham ô tài sản của Nhà Nước trong quá trình thực hiện đề án chứ không phải là khởi tố dự án. Do đó, cần phát huy những kết quả đã đạt được, không thể coi đề án 112 là hoàn toàn phá sản.

    Tân Khoa (tổng hợp)

    ID: O0710_1