• Thứ Ba, 13/11/2007 13:51 (GMT+7)

    Xã hội hóa thông tin chưa hiệu quả

    Sau nhiều năm triển khai, phần lớn các mô hình xã hội hoá thông tin đều tỏ ra chưa hiệu quả. Bài viết tập trung vào ba vấn đề chính cần cải thiện: Thứ nhất - thông tin; Thứ hai - phương tiện; Thứ ba - tổ chức và cơ chế.

    Sau nhiều năm triển khai, phần lớn các mô hình đều tỏ ra chưa hiệu quả. Bài viết tập trung vào ba vấn đề chính cần cải thiện.

    Trong những năm qua, nhiều địa phương đã triển khai mô hình xã hội hóa thông tin, gọi chung là mô hình “Đưa thông tin đến người dân”. Cách làm của các địa phương gần giống nhau: Xây dựng mạng thông tin công cộng có website chung cho mọi người truy cập, thông tin được cập nhật thường xuyên, người dân đến các “trạm thông tin” gần nhất để tiếp nhận thông tin và truy cập Internet thông qua kênh ADSL.

    Thứ nhất: Thông tin

    Nội dung các website không được cập nhật, đa phần thông tin được chép từ những nguồn khác và gần như giữ nguyên nội dung gốc. Câu hỏi “Người dân thật sự cần thông tin gì?” gần như không có câu trả lời chính thức từ những người thực hiện. Xem lại, thì ra chưa có địa phương nào khảo sát chi tiết để nắm vững người dân thật sự cần những thông tin gì. Cũng chưa có địa phương nào so sánh, xác định vị trí của “mạng thông tin công cộng” với những phương tiện truyền thông khác (TV, phát thanh, báo chí...) xem mạng thông tin công cộng đóng vai trò gì, chuyển tải những thông tin gì và lợi thế của nó đối với các phương tiện truyền thông khác là gì? Cũng chưa có địa phương nào xác định những người dân sống ở đô thị và những người sống ở vùng sâu, vùng xa cần những thông tin khác nhau như thế nào? Tóm lại, chúng ta đang cấp cho người dân những thông tin mà chúng ta có (hoặc có thể thu thập được) chứ chưa phải những thông tin cần.

    Một câu hỏi lớn đặt ra là “ai làm tin” (ai thu thập, tuyển chọn, biên tập, dựng web và đưa tin lên mạng)? Đó là trách nhiệm của sở Khoa Học và Công Nghệ hay sở Bưu Chính Viễn Thông, hoặc sở Văn Hóa và Thông Tin? Trong khi người dân nông thôn cần nhiều thông tin từ sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, sở Tài Chính, sở Thương Mại... Vậy làm thế nào phối hợp liên ngành tạo ra nguồn thông tin phong phú cho người dân nếu UBND tỉnh/thành phố giao đứt cho một sở thực hiện như không ít địa phương đã làm?

    Quan sát các website thông tin hướng đến người dân của những địa phương trong cùng một vùng, chúng ta dễ dàng nhận thấy có nhiều nội dung trùng lặp. Ví dụ ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thông tin khoa học công nghệ trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, bảo quản nông sản gần như giống nhau. Vậy mà hiện tượng phổ biến là mỗi tỉnh tự “hì hục” làm lấy tin của mình chứ không liên kết cả vùng để chia sẻ và làm giàu thông tin cho cả vùng dùng chung. Hỏi ra, nhiều người nói cũng muốn như vậy nhưng không biết ai ráp nối, rồi vấn đề ngân sách, phối hợp, cập nhật, khai thác, bảo trì... cũng chưa biết thế nào!

    Người dân tiếp thu thông tin cần nhiều hình ảnh, bản vẽ minh họa, ít lời, chữ to và rõ nghĩa lại dễ tìm kiếm, dễ chọn tin và dễ tiếp thu. Đáp ứng yêu cầu tưởng là đơn giản ấy thật sự không dễ dàng vì đòi hỏi người làm tin phải có tay nghề cao trong khâu biên tập, xử lý hình ảnh, đồ họa, nắm vững kỹ thuật chuyển tải thông tin hay cao hơn là công nghệ nội dung. Đó là những yêu cầu vượt quá khả năng của nhiều địa phương. Thêm vào đó, việc thiết kế website cho các địa phương theo hướng tích hợp thông tin là của các nhóm phần mềm khác nhau có quan điểm thiết kế và có trình độ khác nhau (vì vậy, chắc chắn là các website này không hiểu nhau).

    Phải chăng chúng ta chưa có thiết kế tổng thể cho một mạng thông tin công cộng toàn quốc, trong đó phân hoạch rõ ràng từng mảng nội dung để cả xã hội cùng đóng góp, cập nhật thông tin và cùng khai thác, sử dụng?

    Thứ hai: phương tiện

    Trừ những gia đình có máy tính riêng, người dân nói chung (nhất là ở nông thôn) thường tra cứu thông tin tại các “trạm thông tin”. Tùy từng địa phương mà “trạm thông tin” được đặt tại bưu cục văn hóa xã, nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng hay UBND xã. Thường mỗi trạm có 1 hoặc 2 máy tính có kết nối Internet qua kênh ADSL, 1 máy in và một cán bộ làm nhiệm vụ thao tác phục vụ người dân và quản lý các thiết bị này. Thế nhưng khi máy hỏng, dù là trục trặc rất nhỏ cũng phải chờ kỹ thuật viên của tỉnh về sửa, đôi khi phải chờ nhiều tháng.

    Các “trạm thông tin” được kết nối đến Internet và website thông tin do một đơn vị trực thuộc UBND hoặc một sở nào đó quản lý (Khoa Học và Công Nghệ hay Bưu Chính Viễn Thông). Website có thể được cài đặt (hosting) trên cổng của một nhà cung cấp nào đó hoặc trên server của chính đơn vị quản lý nếu đơn vị đó có kênh thuê riêng và địa chỉ IP riêng. Từ đây lại nảy sinh nhiều yêu cầu khác như chi phí thuê cổng, thuê kênh, bảo trì kỹ thuật đối với mạng intranet... Nếu mỗi địa phương có một mạng thông tin công cộng riêng như vậy thì tổng chi phí không nhỏ trong khi chất lượng phục vụ lại không cao.

    Thứ ba: tổ chức và cơ chế

    Có hàng loạt câu hỏi đặt ra: Đặt các trạm thông tin này ở đâu, chọn và thao tác viên như thế nào, thuộc biên chế của cơ quan nào, ai sẽ trả lương cho thao tác viên, ai thanh toán cước truyền thông, bảo trì, sửa chữa, nâng cấp thiết bị, ai chi mua sắm văn phòng phẩm, thanh toán tiền điện nước, sử dụng mặt bằng...

    Như đã nói trong phần trên, mỗi địa phương đặt “trạm thông tin” tại các điểm khác nhau. Thống kê sơ bộ cho thấy số lượt người dân đến các trạm thông tin cao nhất nếu đặt ở bưu cục văn hóa (xã, thôn) và trung tâm học tập cộng đồng, ít hơn hẳn nếu đặt ở nhà văn hóa hay trụ sở UBND xã. Nguyên nhân do người dân đến những nơi này không chỉ để truy cập thông tin qua mạng mà họ còn có nhu cầu đọc báo, tài liệu, trao đổi, liên lạc, dự tập huấn kỹ thuật hay đơn giản là tham gia sinh hoạt cộng đồng.

     

     

    Bắc Ninh là một trong số ít các địa phương triển khai mô hình trung tâm thông tin khá hiệu quả. UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức phối hợp tất cả các sở, ngành, đơn vị liên quan cùng tham gia xây dựng mô hình này. Mỗi thôn chọn nhà văn hoá thôn làm nơi sinh hoạt cộng đồng. UBND xã cấp kinh phí nâng cấp, trang bị thêm bàn ghế, tủ, kệ sách để lập thư viện. Ngành bưu điện trang bị máy móc thiết bị, tổ chức quầy hàng, cung cấp dịch vụ truyền thông. Thôn cử một thanh niên (nam hoặc nữ) vào vị trí thao tác viên, nghiệp vụ do bưu điện hướng dẫn, lương do UBND tỉnh cấp 100.000 đồng/tháng, phần còn lại được hưởng thêm từ doanh số dịch vụ bưu điện. UBND tỉnh cấp cho thư viện của “trạm thông tin” 2 tờ báo “Nhân Dân” và “Bắc Ninh” và vận động các sở, ngành, đoàn thể gom tài liệu, báo chí hàng tháng tặng cho thư viện ở các trạm thông tin. Ban biên tập website của UBND tỉnh kiêm luôn việc biên tập tin, bài cho mạng thông tin công cộng. Người dân được đọc thông tin miễn phí. Khi cần in nội dung nào đó ra giấy thì trả 500 đồng cho mỗi trang A4. Ở đây, có lẽ hình ảnh để lại ấn tượng mạnh nhất đối với khách tham quan là việc những người dân ở vùng nông thôn đến trạm thông tin thôn đăng ký địa chỉ thư điện tử (email) cho riêng mình để liên lạc với người thân ở trong và ngoài nước.

    Nguyễn Tuấn Hoa
    TT Học Tập Phát Triển TP.HCM

    ID: B0711_64