• Thứ Ba, 13/11/2007 13:47 (GMT+7)

    Định vị thương hiệu nhân lực phần mềm Việt Nam

    Làm sao xây dựng được thương hiệu cho nguồn nhân lực PM mà Việt Nam cung ứng cho quốc tế?

    Theo ông Phạm Tấn Công, tổng thư ký hiệp hội Doanh Nghiệp Phần Mềm Việt Nam (VINASA), thế giới đang thiếu hụt 1,5 triệu nhân lực phần mềm (PM) và khó có thể bù đắp, đặc biệt ở các nước phát triển. Hiện tại, số sinh viên tốt nghiệp ngành CNTT ở Mỹ thấp hơn 10 lần so với Ấn Độ và Trung Quốc. Còn theo ông Paul Marc Voss, phó chủ tịch Harvey Nash Vietnam, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học tại Anh quốc là 11%, Mỹ 8% so với Việt Nam là 83%. Điều này cho thấy Việt Nam có lợi thế so sánh về nguồn nhân lực CNTT.

    Việt Nam hàng năm có khoảng 9000 kỹ sư và cử nhân CNTT được đào tạo tại các trường ĐH, cao đẳng trong cả nước. Nếu chúng ta duy trì được tốc độ tăng trưởng 50%/năm như Ấn Độ thì chúng ta sẽ đạt 200.000 kỹ sư CNTT vào năm 2010 và lên 1,5 triệu năm 2015 so với năm 2006 là 25.000 kỹ sư. Cùng 1,5 triệu kỹ sư ngành CNTT, viễn cảnh năm 2015 là Việt Nam sẽ chỉ đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ, và có thể là Mỹ (tức thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới). Việt Nam hiện đang có cơ hội để thực hiện mơ ước trở thành trung tâm đào tạo và cung cấp nhân lực PM thế giới. Một tín hiệu khả quan là gần đây, số lượng các dự án đầu tư CNTT lớn tại Việt Nam tăng nhanh. Năm 2006, IBM đến Việt Nam mở Global Delivery Center (GDC) với 200 kỹ sư PM, kế hoạch năm 2007 là 1.000 kỹ sư, đến 2008 là 2.000 kỹ sư, tăng 100%/năm. Boeing cũng đang tìm đối tác tại Việt Nam, yêu cầu mỗi hợp đồng cần tối thiểu 1.000 kỹ sư PM, ngoài ra còn nhiều dự án khác nữa của Intel, Compal...

    Nhu cầu của các tập đoàn đa quốc gia này đã hình thành nên thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam. Nhưng làm thế nào để định vị thương hiệu cho nguồn nhân lực này?

    Con đường định vị thương hiệu

    Theo ông Phạm Tấn Công, để Việt Nam trở thành trung tâm đào tạo, cung ứng nhân lực PM của thế giới, đồng thời là điểm đến hấp dẫn trong hợp tác quốc tế về PM và dịch vụ, cần xác định mục tiêu cũng như tầm nhìn quốc gia về phát triển ngành CNTT bằng cách “lấy công nghiệp PM là trọng tâm, lấy đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng quốc tế là biện pháp đột phá”. Cụ thể, nhà nước cần xã hội hóa và quốc tế hóa đào tạo nhân lực PM, đặc biệt khuyến khích đầu tư các trường cao đẳng và đại học tư thục chuyên ngành CNTT chất lượng quốc tế; đảm bảo cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư vào đào tạo CNTT rõ ràng, minh bạch; thành lập cơ quan đặc trách về đào tạo, phát triển nhân lực PM và CNTT quốc gia.

    Về phía nhà trường, cần cải tiến chương trình giảng dạy bằng cách tiếp cận các giáo trình theo chuẩn quốc tế; đánh giá cập nhật hàng năm dựa trên các đóng góp của doanh nghiệp (DN); qui định chứng chỉ ngoại ngữ bắt buộc với sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp như TOEIC hay TOEFL; tăng cường khả năng thực hành cùng các kỹ năng làm việc cho sinh viên từ năm thứ nhất: tự nghiên cứu, làm việc nhóm và quản lý, đầu tư cơ sở vật chất,...

    Nhà trường cũng cần chủ động hơn nữa trong việc làm cầu nối cho sinh viên và DN, tăng cường hợp tác với các tổ chức chuyên nghiệp, đào tạo ngắn hạn theo đơn đặt hàng từ DN PM như chuyên viên thử nghiệm, quản lý đề án, phân tích nghiệp vụ, kiến trúc hệ thống. Nhà trường cũng nên có cơ chế tốt hình thành mô hình liên kết nhà trường - DN, thành lập các trung tâm hỗ trợ nghiên cứu tại đại học, tham khảo nhu cầu của DN để xây dựng chương trình học, chủ động gặp gỡ lên kế hoạch để DN tham gia đóng góp ý kiến cùng với các hội đồng khoa học của trường khi xây dựng giáo trình và phối hợp DN xây dựng các chương trình nghiên cứu khoa học với những đề tài thiết thực cho ngành CNTT.

    Còn phía các DN, nên có nội dung và chương trình hợp tác chi tiết, có tính hoạch định để nhà trường không bị động, cũng như có sự đầu tư nghiêm túc trong việc nhận và đảm bảo chất lượng sinh viên thực tập tại DN. Nếu có thể, DN PM nên tạo điều kiện thu nhận sinh viên năm 2, năm 3 của các trường CNTT vào thực tập tại DN của mình để sinh viên được “nhúng” vào môi trường thực. Tổ chức hội thảo với các đề tài đa dạng như: giới thiệu công nghệ mới, rèn luyện kỹ năng mềm, thực tập tại DN sao cho hiệu quả tốt nhất, chuẩn mực và đạo đức nghề nghiệp của lập trình viên... là những hoạt động thiết thực có ích cho sinh viên.

    Thay lời kết

    Nếu DN và nhà trường thực hiện tốt những vấn đề này, có sự phối hợp hỗ trợ nhau thật chặt chẽ từ ba đối tượng là sinh viên – nhà trường – DN, theo dự đoán của VINASA, trong 10 năm tới Việt Nam tuy chưa thể trở thành một cường quốc công nghiệp PM nhưng có thể trở thành cường quốc nhân lực PM. Ngoài ra, nếu tính theo thu nhập của một lao động PM quốc tế là 20.000 USD/năm thì với 1,5 triệu lao động sẽ mang lại 30 tỷ USD/năm. Thêm một lợi ích nữa từ đội ngũ chuyên gia PM quốc tế với thương hiệu Việt Nam là việc nắm bắt được thông tin, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn.

    Như Nguyện

    ID: B0711_69