• Thứ Năm, 14/02/2008 15:01 (GMT+7)

    Bỏ thói quen làm theo cảm tính

    Ngoài việc cung cấp đánh giá mang tính khoa học, về lâu dài chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT-TT (ICT Index) còn rất hữu ích cho các nhà lãnh đạo, các cơ quan quản lý. Nó hỗ trợ cho việc ra quyết định, quản lý điều hành.

    Tháng 9/2007, ICT Index 2006 bản tóm tắt được công bố ở hội thảo “Hợp tác phát triển CNTT – TT VN” lần XI tại Ninh Thuận (*). Ngày 16/1/2008 vừa qua, tại Hà Nội, bản toàn văn đã được cung cấp tại lễ công bố “Chương trình hành động, sự kiện năm 2008” của hội Tin Học Việt Nam (VAIP). Có
    thể xem bản toàn văn trên website của hội: http://www.vaip.org.vn

    Ông Lê Hồng Hà, phó tổng thư ký VAIP, phụ trách phân tích ICT Index (**) 2006, trao đổi với tạp chí TGVT về những điểm đáng chú ý trong bộ chỉ số này.

     

    Ông Lê Hồng Hà

    Thưa ông, trong bảng xếp hạng ICT Index mới nhất, năm 2006, khối tỉnh thành có nhiều sự thay đổi đáng ngạc nhiên. Ví dụ Phú Thọ năm 2005 xếp thứ 34, năm 2006 lên thứ 11; Nghệ An từ 37 lên 18; Hưng Yên từ 38 lên 17; Bình Dương từ 16 lên thứ 3... Theo ông nguyên nhân do đâu?

    Năm ngoái, nhiều đơn vị thu thập số liệu chưa nghiêm túc lắm, và đầu mối số liệu cũng chưa thống nhất. Năm nay đầu mối các địa phương đều đã giao về sở BCVT và việc thu thập cũng bài bản hơn nên kết quả có nhiều thay đổi.

    Trong năm đầu tiên, nhiều đơn vị thậm chí còn hiểu chưa đúng bản chất câu hỏi. Ví dụ, đối với các bộ, chúng tôi chỉ yêu cầu cung cấp thống kê số liệu trong phạm vi bộ máy quản lý nhà nước ở cấp trung ương. Nhưng bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GDĐT) năm ngoái đã cung cấp con số cán bộ, nhân viên của toàn ngành. Trong khi đó, Bộ lại không có số liệu về hạ tầng của toàn ngành, dẫn đến tỉ lệ hạ tầng chia theo đầu người thấp xuống rất nhiều. Năm ngoái bộ GDĐT giao việc thu thập số liệu cho một văn phòng nào đó. Năm nay họ đã giao cho cục Ứng Dụng CNTT (trước là trung tâm Tin Học của Bộ), đơn vị trực tiếp triển khai ứng dụng CNTT nên số liệu chính xác và đầy đủ hơn.

    Mặt khác, việc xếp hạng còn phụ thuộc vào tương quan. Có những đơn vị không hẳn đã tiến bộ vượt bậc, nhưng vẫn nổi hẳn lên do những đơn vị xung quanh bị tụt hạng nhiều.

    Thưa ông, bộ GDĐT năm ngoái xếp thứ 25, năm nay lên thứ nhất. Ngoài việc làm công tác số liệu tốt hơn thì còn có nguyên nhân nào khác không? Chẳng hạn, nhiều người dễ liên tưởng đến ảnh hưởng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân (đồng thời là bộ trưởng Bộ GDĐT)?

    Chúng tôi khẳng định không có ảnh hưởng của lãnh đạo bộ GDĐT. Sự lên hạng của bộ GDĐT có mấy nguyên nhân: Thứ nhất, do năm nay ICT Index chú trọng mảng ứng dụng (ƯD) nhiều hơn. Các chỉ tiêu về ƯD yêu cầu liệt kê rất chi tiết, cụ thể và có định hướng nên không thể khai chung chung. Ví dụ trước đây các đơn vị chỉ việc khai là có website, không cần ghi rõ nó có hoạt động hay không, hoạt động thế nào. Nay phải liệt kê chi tiết để tính điểm.

    Bộ GDĐT là bộ ƯD CNTT mạnh. Chỉ riêng về website đã có tới mấy “cái”. Website cũng có nhiều nội dung và trong website cũng có nhiều ƯD. Do đó điểm ƯD của Bộ này tăng nhiều.

    Thứ hai, bộ GDĐT năm nay có cục ƯD CNTT (trước là trung tâm Tin Học) và giao cho cục này phụ trách việc thu thập số liệu. Chỉ riêng việc thành lập cục ƯD CNTT cũng cho thấy ƯD CNTT ở Bộ này mạnh hơn và chuyên nghiệp hơn. Đó là một sự biến đổi về chất trên cơ sở biến đổi về tổ chức.

    Công tác thu thập số liệu cho ICT Index đã đạt yêu cầu chưa, thưa ông? Liệu có những trường hợp khai không trung thực?

    Đây mới là năm thứ 2 nên việc thu thập số liệu còn chưa ổn định, chủ yếu do năng lực và sự quan tâm của các địa phương. Ở nhiều địa phương, các nhà quản lý vẫn chưa quan tâm đến con số thống kê nên nhiều khi quyết định chỉ dựa vào cảm tính, thiếu cơ sở khoa học. ICT Index sẽ làm nhiều năm nên nếu năm nay báo cáo không đúng, năm sau sẽ “lòi” ra ngay. Không thể giấu diếm mãi được.

    Ngoài việc để xếp hạng, nhìn vào để phấn đấu, ICT Index còn có ý nghĩa gì khác?

    Ngoài việc cung cấp một cái nhìn mang tính khoa học, về lâu dài ICT Index còn rất hữu ích cho các cơ quan quản lý. Nó tạo ra thói quen, nhu cầu cần thu thập, thống kê số liệu để hỗ trợ ra quyết định, quản lý điều hành. Chúng ta cần kết thúc giai đoạn ra quyết định dựa vào cảm tính.

    ICT Index càng qua nhiều năm, càng chính xác hơn. Một bộ số liệu liên tục như thế không chỉ giúp đánh giá thực trạng mà còn theo dõi được xu thế phát triển, tiềm năng của các đơn vị. Nếu phân tích số liệu giỏi còn có thể đưa ra những dự báo tốt. Tuy nhiên, để có một bộ số liệu thật chuẩn cần phải có cả quá trình.

     

    Mạng của bộ GDĐT có nhiều thông tin hữu ích

    Sau khi công bố ICT Index 2006, các đối tượng liên quan phản ứng như thế nào?

    Hầu hết đều chấp nhận. Không thấy có thắc mắc về phương pháp luận, về vị trí xếp hạng nữa mà chủ yếu họ quan tâm ai tiến bộ, ai tụt lùi, cụ thể như thế nào...
    Sau khi công bố ICT Index năm 2005, bộ trưởng bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn còn cử người sang văn phòng VAIP để tìm hiểu kỹ đối tượng, phạm vi, phương pháp, cách lấy số liệu. Hiện nay bộ Tài Chính đang xây dựng ICT Index cho ngành, Khánh Hòa đang làm Index cho địa phương, họ đều tham khảo cách làm của chúng tôi. Một số địa phương, đơn vị khác như Hà Nội (có đề tài điều tra thực trạng và làm Index cho HN), Bắc Giang, bộ Thương Mại... cũng rất quan tâm số liệu này.

    Vì sao VAIP không công bố ICT Index 2006 sớm hơn? Liệu có thể đẩy sớm thời điểm công bố ICT Index 2007?

    Hội phải chờ công văn của Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT và bộ TTTT giao việc này cho Hội cũng như đề nghị các địa phương cung cấp số liệu. Tháng 6/2007, chúng tôi mới có công văn này. Năm nay, tổ chức và hoạt động của văn phòng BCĐ còn chưa rõ và có thể thay đổi, do đó có thể chúng tôi cũng phải chờ. Chúng tôi xử lý số liệu chỉ hết vài tuần, nhưng khâu thu thập số liệu lại khá lâu, mất vài tháng, phụ thuộc vào các địa phương, bộ/ngành.

     

    Xếp hạng ICT Index 2006
    (3 vị trí đầu tiên và cuối cùng)

    Khối bộ/ngành: 1/Bộ GDĐT-ĐT (năm ngoái xếp thứ 25). 2/Bộ Tài Chính. 3/Bộ Thương Mại (có bộ Thương Mại vì ICT Index xếp hạng trước thời điểm sắp xếp lại tổ chức của các bộ). 33/Ban Tôn Giáo Chính Phủ. 34/Học viện Chính Trị QG HCM. 35/Ban Cơ Yếu Chính Phủ.
    Khối địa phương: 1/TP. HCM. 2/Hà Nội. 3/Bình Dương. 62/Hà Giang. 63/Sơn La. 64/Tuyên Quang.
    Khối ngân hàng (NH): 1/NH Đầu Tư và Phát Triển VN (năm ngoái xếp vị trí 13). 2/NH TMCP Á Châu. 3/NH TMCP Dầu Khí Toàn Cầu. 30/NH TMCP Nông Thôn Mỹ Xuyên. 31/NH Chính Sách Xã Hội Việt Nam. 32/NH CPTM Nông Thôn Đại Á.
    Khối tổng công ty (TCT) 90-91: 1/TCT Hàng Không VN. 2/ TCT Thép VN. 3/ Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam. 34/TCT Rau Quả, Nông Sản. 35/TCT Xây Dựng Đường Thuỷ. 36/TCT Đường Sông Miền Bắc.

         

    Trong bảng xếp hạng, có hiện tượng mức chi cho CNTT ở các tỉnh/thành, bộ/ngành rất chênh lệch. Ông có nhận xét gì về điều đó?
    Ông Lê Hồng Hà: Đúng là có những địa phương, bộ/ngành chi tiêu gấp nhiều lần so với các đơn vị khác. Nhưng mức chi ở đây tính theo năm. Năm ngoái đã chi nhiều rồi thì năm nay có thể chi ít. Ngoài ra mức chi còn phụ thuộc vào dự án. Do đó mức đầu tư chỉ chiếm khoảng 1/7 – 1/8 so với toàn bộ các chỉ tiêu về ƯD CNTT.

     
      (*): Tham khảo “Hội thảo Ninh Thuận: Mở hướng CNTT”, TGVT sê-ri B 10/2007
    (**): Tham khảo “Vietnam ICT Index 2005: Biết mình đang ở đâu”, TGVT sê-ri B 9/2006.
     

    Nguyễn Hưng

    ID: B0802_13