• Thứ Năm, 29/05/2008 09:35 (GMT+7)

    Chương trình đào tạo đại học về CNTT

    Đào tạo CNTT bậc đại học ở Việt Nam hiện nay phần nhiều mang tính tự phát, “a dua” nhau, thiếu một nền tảng chung. Cần thay đổi tình trạng này để phù hợp với các chuẩn đào tạo của thế giới.

    Vài nét về thực trạng

    Trong hệ thống đào tạo đại học (ĐH), tại Việt Nam, CNTT được tách thành khoa riêng vào năm 1995, còn trước đó nó chỉ là một bộ môn trong khoa Toán. Sau hơn 10 năm phát triển, hiện nay các khoa CNTT đào tạo kỹ sư/cử nhân CNTT được mở ra tại hầu hết các trường ĐH, kể cả những trường có tên gọi khá xa với CNTT như ĐH Nông Lâm, ĐH Thủy Lợi...

    Luật Giáo Dục chỉ rõ nhà nước quy định về chương trình khung của các ngành đào tạo, nhưng đến nay, chương trình khung liên quan đến CNTT vẫn chưa ban hành, dù bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GDĐT) đã tốn khá nhiều công sức (và cả kinh phí) để thành lập hội đồng biên soạn nhưng chưa thông qua được.

    Có nhiều lý do dẫn đến chuyện này, nhưng có lẽ cần nhấn mạnh 3 lý do cơ bản sau:

    - Ngành CNTT thay đổi quá nhanh, tốc độ biên soạn chương trình không theo kịp tốc độ thay đổi của tri thức.

    - Sự dịch chuyển rõ nét của CNTT từ một ngành mang tính chất khoa học - công nghệ sang ngành mang tính chất kinh tế - kỹ thuật là thách thức lớn với hệ thống đào tạo, trong đó có những người tham gia xây dựng chương trình (còn mang nặng tính hàn lâm và không bám vào nhu cầu DN, nhu cầu xã hội)

    - Tính quốc tế hóa – toàn cầu hóa mạnh mẽ của ngành kinh tế - kỹ thuật này tương phản với các quy định về chương trình đào tạo ĐH Việt Nam (VN) hiện nay (vẫn mang "tính Việt Nam" rõ nét).

    Do chưa có chương trình khung, nên nội dung đào tạo các chuyên ngành CNTT do các trường ĐH tự đề xuất, sau đó gửi lên bộ GDĐT phê duyệt, gọi là "thủ tục mở ngành". Để "mở ngành" thuận lợi, các khoa CNTT mới thành lập cứ bê nguyên chương trình của các trường đi truớc có tiếng tăm (như Bách Khoa, Tổng Hợp), còn các trường đi đầu thì dựa vào chương trình nước ngoài tham khảo được, cân nhắc thêm quy định chung về chương trình ĐH VN, phối hợp với khả năng của lực lượng giảng viên hiện có rồi thuyết minh với bộ để được chấp nhận. Nhìn chung có thể thấy chương trình CNTT hình thành hiện nay mang tính tự phát, đậm nét "a dua", thiếu một nền tảng chung. Do vậy, dù dường như vẫn đáp ứng phần nào nhu cầu của người học, nhưng mức độ đáp ứng nhu cầu sử dụng của thị trường còn thấp.

    Đó cũng là một trong các lý do quan trọng để khi triển khai hoạt động, trường ĐH FPT đã mạnh dạn dạy chương trình khác với chương trình mà đa số trường ĐH đang dạy hiện nay. Và do chưa có chương trình khung về CNTT nên việc đề xuất một chương trình đào tạo CNTT mới, dựa trên chuẩn quốc tế ACM (Association for Computing Machinery) và bám sát nhu cầu nhân lực của CNTT như một ngành kinh tế - kỹ thuật đã được bộ GDĐT chấp thuận.

    Trước 1990: chỉ có 3 chuyên ngành

    Không chỉ ở VN, trên thế giới CNTT cũng là một ngành đào tạo ĐH non trẻ, khác nhiều ngành có truyền thống lâu đời như Toán, Lý, Hóa... Sự thay đổi, phát triển các nội dung và chuyên ngành đào tạo ĐH liên quan đến CNTT gắn chặt với sự phát triển của CNTT.

    Các ngành học liên quan đến CNTT đuợc đưa vào dạy như một chuyên ngành của ĐH chỉ mới bắt đầu từ những năm 60 trong các trường ĐH ở Mỹ. Thời gian này có 3 chuyên ngành chính: Khoa Học Máy Tính (CS - Computer Science), Kỹ Thuật Điện (EE - Electrical Engineering) và Hệ Thống Thông Tin (IS - Information System). Việc phân thành 3 ngành khá mạch lạc, và việc lựa chọn nghề của sinh viên cũng dễ dàng: ai muốn làm chuyên gia PM hoặc nghiên cứu lý thuyết về tin học thì chọn ngành Computer Science, ai thích phần cứng thì chọn Electrical Engineering, còn những ai thích theo hướng sử dụng các phần cứng và PM trong các tổ chức thì chọn Information System. Trước những năm 1990, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ vi xử lý đã làm nảy sinh chuyên ngành Computer Engineering (CE) như một nội dung trong ngành Electrical Engineering.

    3 tách thành 6

    Trong những năm 90, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT ảnh hưởng đến việc phân ngành đào tạo với những thay đổi cơ bản. Những thay đổi quan trọng của CNTT trong thời gian này phải kể đến:

    - Chip máy tính trở thành linh kiện cơ bản của các thiết bị cơ khí, điện tử. Và ngành Computer Engineering tách ra khỏi Electrical Engineering để trở thành một ngành riêng.

    - Nhu cầu nhân lực nghiên cứu, giảng dạy và làm PM tăng lên nhanh chóng. Với định hướng kinh tế - kỹ thuật, chuyên ngành kỹ thuật PM (Software Engineering – SE) nhanh chóng phát triển thành một ngành mạnh và tách ra khỏi ngành khoa học máy tính mang nặng tính nghiên cứu.

    - Máy tính trở thành công cụ làm việc của mọi tổ chức, và hệ thống máy tính nối mạng cũng trở thành hạ tầng kỹ thuật thông dụng. Điều này làm mức độ phức tạp về mặt kỹ thuật cũng như tổ chức của các công việc liên quan đến hệ thống thông tin tăng lên, và hình thành nhu cầu cần có những người được đào tạo bài bản đứng ở phía DN chứ không chỉ ở đơn vị CNTT chuyên nghiệp. Chuyên ngành ứng dụng CNTT (Information Technology – IT) được hình thành và tách ra khỏi hệ thống thông tin để trở thành chuyên ngành riêng.

    Bức tranh đầu thế kỷ 21 của các chuyên ngành đào tạo CNTT được thể hiện trong sơ đồ sau: từ 3 ngành, mỗi ngành tách đôi để trở thành 6 ngành, trong đó phần cứng liên quan đến 2 chuyên ngành, PM liên quan đến 3 chuyên ngành và ứng dụng liên quan đến 2 chuyên ngành.

    Với sự hình thành của ngành Computer Engineering, ngành Electrical Engineering mang tính kỹ thuật điện truyền thống nên không được coi là một chuyên ngành của CNTT nữa. Các nội dung về mạng, viễn thông được xem là nội dung của Computer Engineering mà không tách thành ngành riêng (như nhiều trường ĐH VN đang làm).

    Như vậy, theo chuẩn ACM, hiện nay CNTT đào tạo ĐH theo 5 chuyên ngành:

    - Computer Engineering (CE – Kỹ Thuật Máy Tính): Học về phần cứng, bao gồm cả mạng và viễn thông.

    - Computer Science (CS – Khoa Học Máy Tính): Chuyên ngành khoa học, nghiên cứu các khía cạnh lý thuyết của máy tính.

    - Software Engineering (SE – Công Nghệ PM hoặc Kỹ Thuật PM): Chuyên ngành kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản xuất PM.

    - Information System (IS – Hệ Thống Thông Tin): Chuyên ngành kỹ thuật ứng dụng, đào tạo các chuyên gia tích hợp các công cụ phần cứng và PM vào hoạt động của DN.

    - Information Technology (IT - Ứng Dụng CNTT): Chuyên ngành ứng dụng, đào tạo những người đứng về phía DN phối hợp với các chuyên gia IS để triển khai các ứng dụng CNTT trong DN.

    Việt Nam: Vừa thừa vừa thiếu

    Hiện nay đa số các truờng ĐH VN triển khai đào tạo CNTT theo 5 chuyên ngành "chuẩn" sau: Khoa Học Máy Tính (Computer Science), Kỹ Thuật Máy Tính (Computer Engineering), Hệ Thống Thông Tin (Information System), Công Nghệ PM (Software Engineering), Mạng Máy Tính và Viễn Thông (Networking and Telecommunication).

    So với chuẩn ACM thì chúng ta dư một chuyên ngành (mạng máy tính và viễn thông) và thiếu một chuyên ngành (ứng dụng CNTT). Như đã nói ở trên, nội dung về mạng máy tính và viễn thông theo chuẩn ACM được đưa thành chuyên ngành hẹp của chuyên ngành phần cứng - theo quan điểm phần cứng hiện nay không chỉ là các máy tính đơn lẻ mà triển khai trên hạ tầng mạng/viễn thông. Cũng cần nói thêm trong chuẩn ACM có chuyên ngành CNTT về mạng, với tên gọi là "Support Computing in Networking Environment" – và đây là chương trình cao đẳng 2 năm.

    Sơ đồ khung

    Tiêu chuẩn ACM quy định chương trình khá chi tiết cho từng chuyên ngành. Nội dung đào tạo của các chuyên ngành nêu trên khác nhau ở 2 góc độ: mức độ nhiều ít giữa lý thuyết - ứng dụng, và mức độ nhiều ít giữa cụ thể - trừu tượng (hoặc giữa cứng và mềm).

    Khung kiến thức kỹ năng của từng chuyên ngành nói trên có thể biểu diễn trong sơ đồ 2 chiều, một chiều là lý thuyết - ứng dụng (chiều nằm) và một chiều là cứng - mềm (chiều đứng). Theo mức độ cứng mềm, từ thấp đến cao có phần cứng và kiến trúc máy, hạ tầng hệ thống, các công cụ PM, công nghệ ứng dụng và cuối cùng là hệ thống tổ chức trong DN. Các chuyên ngành có biểu diễn về yêu cầu kiến thức kỹ năng như sau:

    Hai chiều của sơ đồ khung kiến thức và kỹ năng CNTT

    - Computer Engineering (CE): trải rộng cả lý thuyết và thực hành, nhưng thiên về phần cứng.

    - Computer Science (CS): không quá sâu về cứng và mềm, nhưng tập trung nhiều ở khía cạnh lý thuyết.

    - Information System (IS): thiên về mềm và cơ cấu tổ chức, bao phủ cả lý thuyết và ứng dụng nhưng nghiêng về phía ứng dụng nhiều hơn.

    - Information Technology (IT): nghiêng về mềm, cơ cấu tổ chức và tập trung vào ứng dụng - Software Engineering (SE): đây là ngành có hình cân đối nhất, giữ vị trí trung gian giữa cứng - mềm và lý thuyết - ứng dụng. Hiện nay ở VN chưa khoa CNTT nào đạo tạo chuyên ngành IT (Ứng Dụng CNTT). Đào tạo chuyên ngành này là định hướng hoạt động tiếp theo của trường ĐH FPT, với mong ước góp phần lấp một chỗ trống, đào tạo nhiều "CIO" một cách bài bản cho các đơn vị ứng dụng. Việc thiếu hụt vị trí này - cả về người và kiến thức – là một trong các nguyên nhân gây khó khăn và thiếu hiệu quả trong các ứng dụng CNTT hiện nay.

    Lựa chọn của nhiều trường đại học

    Chuẩn ACM cho bức tranh khá hợp lý về phân ngành đào tạo ĐH liên quan đến CNTT. Điều này không chỉ giúp người học định hướng chọn nghề dễ dàng, hình dung bức tranh phát triển nguồn nhân lực sáng sủa, mà còn là chuẩn chung cho phép hợp tác giữa các truờng ĐH trong và ngoài nước (trao đổi chương trình, trao đổi giảng viên, sinh viên) dễ dàng. Từ 2007, Nhật Bản cũng chính thức có phiên bản tiếng Nhật của chuẩn ACM. Trường ĐH Canergie Melon (CMU) – cái nôi của chuẩn PM CMM cũng xây dựng chương trình đào tạo CNTT dựa trên chuẩn này.

    Lê Trường Tùng
    Hiệu trưởng trường đại học FPT

    ID: B0805_68