• Thứ Sáu, 30/05/2008 07:42 (GMT+7)

    Thấy gì qua dịp chuẩn bị tuyển sinh CNTT 2008?

    Chỉ tiêu tuyển sinh cao

    Trong khoảng 390 trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) tuyển sinh năm 2008, ngoài một số trường chuyên đào tạo nhân lực CNTT thì có đến hơn 250 trường có tuyển sinh các ngành học thuộc lĩnh vực CNTT và điện tử - viễn thông (ĐT-VT). Rất tiếc là website của bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GDĐT) chưa có thống kê về chỉ tiêu tuyển sinh năm 2008 liên quan đến lĩnh vực này để thấy số nhân lực CNTT được bộ chấp thuận đào tạo ở các trường ĐH và cao đẳng lớn như thế nào.

    Theo thứ trưởng bộ GDĐT Bành Tiến Long, tính đến 2007 cả nước có 230 trường ĐH, CĐ có đào tạo chuyên ngành CNTT - truyền thông, tuyển sinh mỗi năm không dưới 10.000 chỉ tiêu. Nhiều trường tuy đào tạo đa ngành nhưng đã có bề dày về đào tạo lĩnh vực CNTT, ĐT-VT như ĐH Công Nghệ, ĐH Khoa Học Tự Nhiên (KHTN) thuộc ĐH Quốc Gia Hà Nội, ĐH Bách Khoa Hà Nội (BKHN), ĐH Bách Khoa và ĐH KHTN thuộc ĐHQG TP.HCM, học viện Kỹ Thuật Quân Sự... đương nhiên sẽ có chỉ tiêu tương đối lớn. Nhiều trường ngoài chỉ tiêu đào tạo từng ngành còn thông báo liên kết đào tạo trong nước, ngoài nước, đặc biệt là đào tạo chất lượng cao. Một số trường đã thông báo chỉ tiêu hệ vừa học vừa làm, chỉ tiêu hệ đào tạo từ xa (ĐH Hà Nội, ĐH CNTT – ĐHQG TP. HCM). Một vài trường có thông báo hệ đào tạo văn bằng 2 chung cho nhiều ngành, nhưng không rõ có ngành CNTT hay không.

    "Hoa mắt" trước các chuyên ngành

    Số các ngành, chuyên ngành thuộc CNTT, ĐT-VT mà các trường thông báo chỉ tiêu tuyển sinh khá phong phú. Rất tiếc là cho đến nay, nước ta chưa có chuẩn về danh mục ngành nghề CNTT và chưa có chuẩn về chức danh ngành nghề này. Bộ GDĐT thì chưa công bố rộng rãi cho thí sinh biết chuẩn ngành, chuyên ngành đào tạo lĩnh vực CNTT, ĐT-VT, nên có khả năng tên gọi ngành, chuyên ngành của lĩnh vực này được các trường đưa ra có thể hiểu khác nhau.

    Ngay trong tài liệu "Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH và cao đẳng năm 2008" của bộ GDĐT, cũng có hơn 50 tên gọi ngành, chuyên ngành liên quan đến CNTT, ĐT-VT, trong đó có nhiều tên gần giống nhau, như: sư phạm tin, sư phạm kĩ thuật tin học, sư phạm toán - tin; hệ thống thông tin địa lý, CNTT địa lý; thông tin - thư viện, quản trị thư viện - thông tin, thông tin học (quản trị thông tin, thông tin - thư viện)...

    Điều đó gây ra nhiều băn khoăn. Chúng ta chưa có được một chuẩn ngành đào tạo CNTT. Tên gọi còn chưa thống nhất nói gì đến nội dung kiến thức, kĩ năng và những đặc trưng khác của ngành! Riêng 2 thuật ngữ "tin học" và "CNTT" (tưởng chừng ai cũng biết) đã không thống nhất. Có trường dùng là ngành "tin học", trường thì dùng "CNTT", có trường thì hiểu CNTT là chuyên ngành của tin học. Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân có ngành Khoa Học Máy Tính, trong đó có chuyên ngành CNTT. Trường ĐH BKHN có CNTT với các ngành: Khoa Học Máy Tính, Hệ Thống Máy Tính, Hệ Thống Thông Tin, Truyền Thông Máy Tính, Công Nghệ Phần Mềm...

    Thuật ngữ CNTT cần được hiểu như trong nghị quyết 49/CP ngày 6/8/1993 của Chính Phủ, theo nghĩa rộng bao gồm các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật và các giải pháp công nghệ... nhằm giúp con người nhận thức đúng đắn về thông tin và các hệ thống thông tin, tổ chức và khai thác các hệ thống thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người? Hay CNTT là một ngành đào tạo gồm các chuyên ngành: các hệ thống thông tin, công nghệ phần mềm, khoa học máy tính, mạng và truyền thông máy tính? Tin học (Informatique trong tiếng Pháp, Computer Science - khoa học máy tính trong tiếng Anh) thì được hiểu như thế nào? Là ngành nghiên cứu về tự động hoá xử lý thông tin bởi một hệ thống máy tính cụ thể hay trừu tượng? Tin học bao hàm tất cả các nghiên cứu khoa học, các kỹ thuật, công nghệ có liên quan đến xử lý thông tin hay được hiểu như thế nào khác nữa? Chuyên ngành CNTT địa lý khác với chuyên ngành hệ thống thông tin địa lý ở chỗ nào? Ngành tin học kinh tế có khác với ngành hệ thống thông tin quản lý? Bao nhiêu câu hỏi cho từng ngành, chuyên ngành trong lĩnh vực này chưa được giải đáp thì thí sinh sao có thể hình dung được nội dung của ngành, chuyên ngành đào tạo lĩnh vực CNTT?

    Cần có mã ngành thống nhất

    Theo tài liệu về tuyển sinh nói trên của bộ GDĐT, ta có thể biết được mã ngành quy ước để nhập vào máy tính khi tuyển sinh. Hình như bộchưa có một mã ngành đào tạo thống nhất nên buộc phải để cho mỗi trường có một mã ngành riêng. Ngành CNTT (với các chuyên ngành: Các Hệ Thống Thông Tin, Công Nghệ Phần Mềm, Khoa Học Máy Tính, Mạng và Truyền Thông Máy Tính) của ĐH Công Nghệ -ĐHQGHN (QHI) có mã là 105. Ngành CNTT của học viện Công Nghệ BCVT (BVH) có mã là 104. CNTT với các Ngành Khoa Học Máy Tính, Hệ Thống Máy Tính, Hệ Thống Thông Tin BKHN (BKA) có mã ngành là 107.

    Cũng có thể, tuy tên gọi là ngành CNTT nhưng mỗi trường có một chương trình đào tạo khác nhau nên được đánh mã số khác nhau. Nếu thế, nên đánh mã số thống nhất cho từng ngành, chuyên ngành rồi gắn thêm mã số của trường vào sẽ thuận lợi hơn nhiều cho thí sinh tham khảo. Chẳng hạn, lấy mã số ngành CNTT là 105 rồi gắn thêm QHI (105QHI) cho ngành CNTT được đào tạo ở ĐH Công Nghệ - ĐHQGHN, 105BVH cho ngành này ở học viện Công Nghệ BCVT, 105BKA cho ĐH BKHN... Cũng cần có mã số cho từng chuyên ngành "Các hệ thống thông tin", "Khoa học máy tính", "Công nghệ phần mềm"... Cần phân biệt tên gọi đó là một ngành, hay chỉ là một chuyên ngành hay là một học phần, một môn học? Tóm lại, để hiểu được một thuật ngữ nói lên bản chất một ngành cần phải giải thích nhiều điều. Thí sinh của chúng ta có cơ hội nào để tìm hiểu điều này? Website của một số trường có thông báo tuyển sinh ngành CNTT nhưng rất ít trường có thông tin cụ thể hơn về ngành này.

    Các ngành và chuyên ngành CNTT ở bậc ĐH, CĐ tuy tên gọi không khác nhau, nhưng chương trình đào tạo cần khác nhau cho từng bậc học. Việc này nếu không chuẩn bị chu đáo sẽ dẫn đến việc cắt bớt một số nội dung của chương trình ĐH để tạo ra chương trình CĐ, dẫn đến thiếu tính hệ thống và logic.

    Nhiều ngành chưa được đề cập

    Trong hệ thống chương trình khung của bộ GDĐT giới thiệu trên mạng edu.net.vn thì môn học "Tin học cơ sở" là môn bắt buộc cho tất cả các ngành đào tạo và dĩ nhiên đã có chương trình khung. Một số ngành thuộc lĩnh vực CNTT đã được xây dựng chương trình khung như ngành hệ thống thông tin quản lý, nhưng còn rất nhiều ngành trong danh mục ngành và chuyên ngành chưa thấy công bố chương trình khung.

    Tuy danh mục ngành, chuyên ngành đào tạo lĩnh vực CNTT của các trường năm nay phong phú nhưng vẫn còn nhiều ngành chưa được đề cập, như ngành hoá - tin, sinh - tin, chính phủ điện tử, tin học cho CIO, tin học cho tài nguyên môi trường, những ngành liên quan đến ứng dụng CNTT trong lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn. Một số trường đã có ngành thông tin học với 2 chuyên ngành: quản trị thông tin và thông tin - thư viện, chuyên ngành báo mạng điện tử trong ngành báo chí.

    Cần nhanh chóng hoàn thiện việc xây dựng danh mục ngành nghề CNTT, danh mục chức danh ngành nghề, danh mục ngành, chuyên ngành đào tạo lĩnh vực CNTT, tiếp tục làm công việc mà từ tháng 12/2003 bộ Nội Vụ cùng bộ BCVT (trước đây) đã làm trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ chính sách” do Canada tài trợ.

    Trong thông báo tuyển sinh của một loạt trường CĐ y tế, CĐ sư phạm (hầu như tỉnh thành nào cũng có) đều có chỉ tiêu đào tạo ngành tin học (hoặc là sư phạm tin học, hoặc tin học ứng dụng, hoặc CNTT). Điều đó thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức về tầm quan trọng của đào tạo nhân lực CNTT cho phát triển.Tuy nhiên, đào tạo nhân lực CNTT không nên tiến hành đồng loạt tại các trường ĐH, CĐ mà chỉ nên tiến hành ở những trường đã có đội ngũ giảng viên CNTT tốt. Các trường khác chỉ nên tìm cách nâng cao kiến thức cũng như kĩ năng CNTT cho sinh viên các ngành được đào tạo ở trường. Nếu làm việc này tốt sẽ góp phần nâng chất lượng đào tạo của trường, thu hút người học. Một sinh viên tốt nghiệp ra trường bất cứ ngành nào có được kiến thức và kĩ năng tốt về CNTT sẽ dễ chủ động ứng dụng CNTT trong công việc của mình.

    Quyết định 51/2007/QĐ-TTg ngày 12/4/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ có đề cập đến một giải pháp lớn là đẩy mạnh phát triển nguồn lực công nghiệp PM, trong đó có mô hình 1+4 (một năm đào tạo ngoại ngữ và 4 năm đào tạo chuyên môn bằng ngoại ngữ đó) và 4+1 (đào tạo thêm 1 năm về CNTT cho các sinh viên tốt nghiệp các ngành ngoại ngữ, khoa học, kỹ thuật, kinh tế để trở thành chuyên gia CNTT). Đáng nói là nội dung của quyết định này phải được thể hiện một cách rõ ràng trong chuẩn bị tuyển sinh ngành CNTT năm 2008, nhưng điều đó lại không được đền cập đến. Giải pháp 4+1 rất cần được đẩy mạnh thực hiện bởi đó là một giải pháp hiệu quả cao khi nhu cầu nhân lực CNTT rất lớn.


    Nguyễn Lâm
    ID: B0805_71