• Thứ Tư, 23/07/2008 13:56 (GMT+7)

    CNTT bậc đại học - Nghĩ thêm về chương trình đào tạo

    Chớ vội vã phê phán chương trình trường này, trường khác ở Việt Nam. Và cũng không nên nghĩ cứ tuyên bố theo một chuẩn nào đó thì sẽ đạt chất lượng cao!

    Trăm hoa đua nở

    CNTT phát triển nhanh chóng đã làm cho chương trình đào tạo (ĐT) về CNTT bậc ĐH có nhiều thay đổi trong mấy mươi năm qua. Nhiều chương trình ĐT CNTT bậc ĐH đã được phân tích, xây dựng ở các ĐH tại các nước khác nhau. Năm 2004, có gần 500 chương trình chuyên ngành kỹ nghệ máy tính (Computer Engineering - CE) trên nước Mỹ và hàng ngàn chương trình chuyên ngành hệ thống thông tin (Information Systems - IS) trên thế giới, thì đến năm 2005, ở Mỹ đã có 1000 chương trình CE và trên thế giới có đến hàng trăm chương trình chuyên ngành này với tên gọi khác nhau.

    Chương trình chuyên ngành CNTT (Information Technology - IT) và chuyên ngành Kỹ Nghệ Phần Mềm (Software Engineering - SE) ít hơn vì ra đời muộn hơn. Giữa năm 2005 có khoảng 70 chương trình IT, 30 chương trình SE ở Mỹ. Ở Anh và Australia thì ít hơn. Trong quá trình phát triển, chúng hướng đến những nội dung cơ bản giống nhau và một số chương trình nổi bật được nhiều ĐH chấp nhận như chương trình chuẩn. Chỉ riêng chuyên ngành Information Systems (Hệ Thống Thông Tin) trong lĩnh vực hàn lâm đã có rất nhiều tên khác nhau: Management Information Systems, Computer Information Systems, Business Information Systems, Informatics, Information Resources Management...

    Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc với DN để biết CNTT được ứng dụng như thế nào là rất cần thiết, nhưng không thể hướng chương trình đào tạo CNTT nói chung vào một DN cụ thể.

    Trong bối cảnh cả thế giới tìm kiếm, xây dựng chương trình và dùng nhiều tên gọi khác nhau, các ĐH có ĐT CNTT ở VN cũng dùng nhiều tên gọi ngành, chuyên ngành CNTT và cũng theo những chương trình ĐT cơ bản giống nhau với từng chuyên ngành là điều dễ hiểu. Gần đây, vài ĐH đã tuyên bố ĐT theo chuẩn quốc tế, như chuẩn ACM, chuẩn trường CMU (Carnegie Mellon University)...

    Do sự phát triển khách quan của ngành CNTT mà chương trình ĐT ở một số ĐH về một số chuyên ngành, không chỉ riêng ở nước ta, chưa phản ảnh những phần cốt lõi nhất của sự phát triển chuyên ngành đó. Đáng nói là VN phản ứng với tình hình một cách quá chậm chạp, không có biện pháp rốt ráo tổ chức nghiên cứu xây dựng chương trình CNTT, không có kiến nghị thay đổi chương trình, và cuối cùng, các ĐH mạnh ai nấy làm... Hệ quả là thí sinh ĐH rất khó chọn lựa ngành nghề, nơi tiếp nhận sinh viên ngành CNTT ra trường cũng gặp khó khăn.

    Những việc có thể làm ngay

    Để có chương trình ĐT đủ hàm lượng tri thức và kĩ năng, phù hợp nhu cầu sử dụng và phản ảnh được sự phát triển của ngành CNTT, chắc còn phải làm nhiều việc và cần thêm thời gian. Nhưng một số việc bất luận trong hoàn cảnh nào cũng cần làm ngay như:

    • ĐH có ĐT CNTT cần công bố chương trình khung ngành, chuyên ngành CNTT trên website của trường.

    • Cần thống nhất một số thuật ngữ ngành, chuyên ngành CNTT. Các văn bản chính quy về danh mục ĐT CNTT phải sử dụng thuật ngữ thống nhất này.

    • Tổ chức hội thảo về ngành, chuyên ngành ĐT CNTT và chương trình khung tương ứng.

    • Tổ chức hội thảo về chức danh nghề CNTT.

    Về việc thống nhất thuật ngữ ngành, tôi cho rằng nên dùng là "ngành CNTT" (ngành ĐT chung, không gọi là "tin học" hay thuật ngữ nào khác). Ngành này có nhiều chuyên ngành. Thống nhất dùng tên gọi 5 chuyên ngành cơ bản mà ACM đã chọn: Khoa Học Máy Tính (Computer Science - CS), Hệ Thống Thông Tin, Kỹ Nghệ Phần Mềm, Kỹ Nghệ Máy Tính, CNTT.

    Có mấy điểm cần cân nhắc thêm. Trước hết, có nên dùng "kỹ nghệ phần mềm", "kỹ nghệ máy tính" (như ACM dùng) thay cho "công nghệ phần mềm", "kỹ thuật máy tính" mà ta đang quen dùng hay không? Về thuật ngữ CNTT, từ lâu chúng ta hiểu là một lĩnh vực bao trùm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, chuyên ngành. Để phân biệt ngành "CNTT chung" với "chuyên ngành CNTT" (trong 5 chuyên ngành theo cách hiểu của ACM), ta nên gọi chuyên ngành CNTT (Information Technology) là chuyên ngành "Ứng Dụng CNTT", đúng như nội dung của chuyên ngành mà ACM xác định.

    Có rất nhiều chuyên ngành ứng dụng CNTT trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Ta nên gọi đây là những chuyên ngành con của chuyên ngành ứng dụng CNTT. VD: Y-CNTT, Vật lí-CNTT, Toán-CNTT, Hóa-CNTT, hệ thống thông tin địa lí...

    Không thể bỏ hàn lâm

    ĐT ĐH CNTT không phải là ĐT những người có thể sử dụng thành thạo phần mềm ứng dụng nghiệp vụ cụ thể cho một ngành nào đó. Nhiều doanh nghiệp (DN) thấy sinh viên đi xin việc không đáp ứng được yêu cầu của mình đã vội lên án các trường là ĐT hàn lâm. Thực ra, so với các chương trình ĐT của nước ngoài như ACM, AIS, IEEE-CS... thì chương trình ĐT CNTT của ta vừa chưa đủ cơ sở lý thuyết cần thiết, vừa thiếu nền tảng của ứng dụng và phát triển, đồng thời phương pháp dạy, phương pháp học và những yếu tố khác nữa đều chưa phù hợp, dẫn đến chất lượng ĐT thấp.

    Chẳng hạn, theo chương trình của ACM thì hàm lượng học phần có tính lý thuyết và học phần có tính ứng dụng thay đổi tùy theo chuyên ngành và tùy theo chuyên đề, học phần hay môn học. Trong một chuyên ngành, tỷ lệ giữa lý thuyết và ứng dụng sẽ thay đổi tùy theo bậc học. Cần lưu ý, không phải các chuyên ngành CNTT chỉ học những chủ đề về máy tính mà còn có những chủ đề ngoài máy tính và hàm lượng của những chủ đề này thay đổi tùy theo chuyên ngành. Những chủ đề về pháp luật, nghề nghiệp, đạo đức, xã hội thì chuyên ngành nào cũng có hàm lượng cao.

    Một khi chúng ta chưa đủ sức lấy một chương trình chuẩn nào đó (như chương trình của ACM chẳng hạn) để ĐT mà phải xây dựng một chương trình riêng cho trường thì không đơn giản chỉ chọn một số học phần, môn học nào đó có khả năng ĐT để đưa vào cấu trúc chương trình là ổn. Để xây dựng một chương trình phải tiến hành phân tích, xác định khối lượng kiến thức, kỹ năng, tương quan giữa lý thuyết và ứng dụng, kiến thức gắn với máy tính và kiến thức không gắn với máy tính, giữa phần cứng và phần mềm... và nhiều vấn đề khác. Mặt khác, mỗi khi nói là theo một chuẩn nào đó thì phải thực sự tiến hành ĐT theo chuẩn đó về hàm lượng tri thức, kỹ năng, lý thuyết, ứng dụng..., chứ không chỉ là lấy tên một số môn học của chuẩn.

    ID: B0807_70