• Thứ Sáu, 11/07/2008 21:49 (GMT+7)

    Bảo tàng công nghệ…

    Bộ TTTT đặt lộ trình chấm dứt hoàn toàn sử dụng MMDS vào năm 2010. Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu, chuyên gia, công nghệ MMDS có thể vẫn còn tác dụng.

    Việc ngừng phát triển truyền hình cáp vô tuyến MMDS, nhường tần số cho 3G của bộ TTTT mới đây thực chất là nhổ rễ một cây công nghệ này để trồng một cây công nghệ khác.

    Chuyển canh

    Minh hoạ: Anten truyền hình cáp MMDS trên nóc nhà cao tầng.
    Về mặt kỹ thuật, điều đó tương tự việc người ta từ bỏ một công cụ không phát huy công năng để rảnh tay sử dụng một công cụ khác. Về mặt kinh tế, đó là sự chuyển đổi mục đích sử dụng “môi trường canh tác” của loại hình này sang loại hình khác, tựa như thay vì trồng một loại cây ít năng suất, kém hiệu quả sang một loại cây được cho là hứa hẹn hơn. Điều đó có thể tương tự việc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất công nghiệp, chuyển đất công nghệ thành đất ở… tuỳ vào mức độ cách mạng của sự thay thế. Quyết định đã được bộ TTTT đưa ra ngày 2/7/2008 tại hội thảo phổ biến kết quả hội nghị thông tin vô tuyến thế giới (WRC-07) và dự kiến điều chỉnh quy hoạch tần số vô tuyến điện quốc gia. Trước đó, bộ TTTT từng cấp phép một số doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ kết nối Internet băng rộng không dây WiMax di động trên băng tần 2.300 - 2.400 MHz và 2.500 - 2.690 MHz. Theo kết quả của WRC-07, WiMax di động đã được kết nạp vào họ tiêu chuẩn của ITM-2000 như một "thành viên" của dòng công nghệ 3G.

    Theo bộ TTTT, dịch vụ truyền hình cáp MMDS cũng sử dụng băng tần này nhưng “vì điều kiện khách quan” sẽ chấm dứt hoạt động. Trước mắt, dịch vụ này sẽ không phát triển thuê bao mới và ngừng hẳn vào năm 2010. Toàn bộ những thiết bị thuộc các nghiệp vụ khác trong dải tần số 2.500 - 2.690 MHz cũng đều phải ngừng sử dụng vào năm 2010 để nhường hẳn dải tần này cho 3G. Cục Tần Số Vô Tuyến Điện sẽ tập trung nghiên cứu những thay đổi trong thể lệ vô tuyến điện đưa ra trong WRC-07, từ đó bổ sung, sửa đổi quy hoạch phổ tần số vô tuyến điện quốc gia.

    MMDS là gì để phải hứng chịu một kết cục như vậy? MMDS (Multichannel Multipoint Distribution Service – Dịch vụ phân phối đa kênh – đa điểm) – một dạng kết nối băng rộng không dây siêu cao tần nhiều kênh từ một điểm đến nhiều điểm. Công nhgệ này đã được sử dụng ở Việt Nam vào truyền hình cáp vô tuyến, thu bằng anten. Truyền hình cáp Saigontourist là một trong các đơn vị đầu tiên triển khai dịch vụ này tại TP.HCM từ gần chục năm nay. Tuy nhiên, sau đó không lâu, giữa năm 2002, truyền hình cáp hữu tuyến ra đời. Ban đầu thì nó thách thức truyền hình cáp vô tuyến nhưng bây giờ thì cục diện đã rõ ràng và quyết định dừng dịch vụ này (MMDS), “lấy đất” làm dịch vụ khác (3G) của bộ TTTT là hoàn toàn phù hợp.

    Còn 3G? 3G (third generation technology) là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền tải thoại, dữ liệu, email, tin nhắn nhanh, hình ảnh... 3G dĩ nhiên truyền tải cả tín hiệu truyền hình số và thế là nó có dủ lý do để tiễn biệt MMDS. Tại nhiều nước, giá tần số cho 3G rất đắt. Các cuộc bán đầu giá tần số mang lại tiền tỷ cho các chính phủ. Chi phí cho bản quyền về các tần số phải trang trải trong nhiều năm trước khi các mạng 3G có thu nhập nên cần đầu tư rất lớn. Bộ TTTT Việt Nam tuyên bố thi tuyển nhà khai thác 3G, một biến tấu của đấu giá nhưng rộng hơn, đòi hỏi các ứng viên Gắng, Giỏi, Giàu nhằm có được những cam kết mạnh với người tiêu dùng, xã hội, đất nước. Dải tần 3G chỉ nằm trong khoảng hẹp 190 MHz từ 2.500 đến 2.690 MHz không khác gì một miếng đất nhỏ nằm giữa nội đô phồn hội và vì thế nó phải rất đắt. 4 nhà khai thác Việt Nam hoặc 4 đầu mối các nhà khai thác, trong đó có nhà khai thác độc lập và có thể có nhà khai thác liên danh giữa các nhà khai thác sẽ chia nhau “lô đất” đó. Mỗi lô bằng 190/4 = 47,5 MHz và về lý thuyết, không thể phát triển quá 47,5 triệu thuê bao hay đầu số dịch vụ và Chính Phủ có thể sẽ không cần “nhắc nhở” doanh nghiệp tiết kiệm tài nguyên kho số nữa.

    Tiến hoá của định dạng

    Công nghệ đĩa quang 16 lớp, 400GB của Pioneer.
    Gần và rõ nhất về sự chuyển đổi công nghệ theo chiều hướng này là ví dụ với những ổ đĩa mềm và ổ (cứng) USB khi mà cách người ta ghi xoá và di chuyển dữ liệu thay đổi. Trước đây, người ta đã từng có rất nhiều định dạng đĩa mềm. Việc chuyển chế tạo và sử dụng từ đĩa mềm to (ví dụ 5,25”) sang đĩa mềm nhỏ hơn (ví dụ 3,5”) đều do khả năng lưu trữ và xử lý, dẫn đến nhiều yếu tố khác như tiết kiệm vật liệu chế tạo ổ đọc, ghi, xoá và bản thân đĩa, gia tăng dung lượng… Yếu tố công nghệ quyết định của đĩa mềm chính là công nghệ ghi xoá theo dạng với băng từ. Cách này có hạn chế lớn nhất là nó bị phụ thuộc vào độ dài các rãnh (track) ghi xoá. Đến lượt mình, các track phụ thuộc vào không gian 2D của mặt đĩa. Do đó, loại đĩa mềm cấp tiến còn sử dụng đến bây giờ cũng chỉ lưu được 1,44MB (có loại 2,88MB ghi mật độ cao, không phổ biến).

    USB cũng từng qua nhiều "đời", từ 1.0; 1.1 đến 2.0 rồi 3.0; từ kết nối có dây đến kết nối không dây với máy tính. Yếu tố công nghệ quyết định của ổ USB là sử dụng chip nhớ flash, ghi xoá dữ liệu bằng việc “định dạng lại” ruột chip với tốc độ lớn hơn hàng nghìn lần so với ghi xoá dữ liệu trên các đĩa mềm. Không gian lưu trữ của ổ USB là 3D và dung lượng lưu trữ cũng lớn hơn hàng nghìn, hàng vạn lần. Nhờ những phát triển về vật liệu mới và với sự phát triển của công nghệ bốc hơi, các chip nhớ ngày càng có thể thu nhỏ về kích thước và các ổ USB ngày càng có thể bố trí nhiều chip nhớ hơn. Chưa có điểm dừng trong việc gia tăng dung lượng lưu trữ và tốc độ đọc/ghi/xoá của ổ USB! “Công nghệ đĩa mềm” có vẻ như đã gục ngã trước ổ USB!!

    Phổ cập với toàn xã hội là câu chuyện về sự ra đời của các loại hình đĩa quang (CD, CD-R, CD-RW, VCD, DVD, HDVD, DVD-Bluray…). Chúng được ra đời nhờ vào khao khát chuyển cách sử dụng với vật lưu thông tin âm nhạc từ đĩa vinyl (đĩa nhựa, đĩa than, đĩa phono, đĩa LP – Long Play). Người đầu tiên được cho là đã sáng chế ra CD là một người Mỹ. Ông ta rất mê nhạc. Vào thập niên 1970, đĩa LP đang ở đỉnh cao cả về chất lượng, doanh số lẫn sự phổ cập. Thế nhưng, nhược điểm lớn nhất của đĩa LP là lưu âm thanh dưới dạng rãnh đĩa, phát âm thanh qua sự rung của một đầu kim nhọn trượt trực tiếp trên rãnh xoáy chôn ốc từ ngoài vào trong lòng đĩa này.

    Sự cọ xát cơ học của vật mang dữ liệu với đầu đọc dẫn đến sự bào mòn cả vật mang lẫn đầu đọc, làm cho chất lượng thông tin tái tạo được suy giảm theo số lần sử dụng. Nhà sáng chế muốn có một “giao tiếp” khác giữa vật mang tin và đầu đọc tin và giao tiếp đó đã ra đời nhờ vào ứng dụng sáng chế ra tia laser trước đó gần 30 năm (1953): Đầu đọc và vật mang tin bây giờ không cọ xát với nhau một cách cơ học và chuyển sang “nói chuyện” với nhau bằng ánh sáng. Người sáng chế và thế giới chế tạo và ứng dụng công nghệ CD đinh ninh rằng sáng chế đã khắc phục được nhược điểm truyền kiếp của LP và thậm chí cả các loại băng từ cùng thời và sau đó nữa như cassete, tape (băng cối)…. Còn thế giới thì hào hứng với loại thiết bị chơi nhạc mới “không hề có sạn”… Khi máy tính phát triển, người ta sử dụng công nghệ CD cho việc lưu trữ dữ liệu máy tính và CD-ROM ra đời. Các thế hệ đĩa quang tiếp theo nối tiếp nhau ra đời nhờ vào nhu cầu sử dụng và khả năng đáp ứng của công nghệ. Mới nhất là loại DVD 16 lớp, 400GB!

    Bảo tàng công nghệ…

    Bảo tàng khoa học - công nghệ Thượng Hải - Ảnh từ Internet.
    Mỗi một cuộc cách mạng công nghệ “đều có giá của nó”. Trong lịch sử, người sáng chế ra máy khâu đã chịu không biết bao nhiêu cực hình vì việc đưa máy khâu vào cuộc sống ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của hàng triệu thợ thủ công. Công đưa máy khâu vào cuộc sống, cũng giống đa số trường hợp khác (như với CD…), cuối cùng cũng không do nhà sáng chế! Là do cuộc sống mới chấp nhận công nghệ mới… Chỉ có điều, cái mới hầu như không bao giờ có thể thay thế hoàn toàn cái cũ, tựa như khâu tay vẫn là một trong những kỹ năng được tôn trọng và vẫn chuyển giao giữa các thế hệ. Vì thế, các nhà công nghệ phải thiết lập bảo tàng công nghệ… Việc này quan trọng không kém các nhà sinh học thành lập các ngân hàng gene…

    Đoạn 1 bài viết nói về MMDS nhường chỗ cho 3G trên cùng một “mảnh đất siêu cao tần” còn đoạn 2 nói đến một hiện tượng khác: Dữ liệu luôn trong quá trình tìm đến những mảnh đất mới để sinh sôi. Thế nhưng, dữ liệu sẽ không từ bỏ các mảnh đất cũ, điều đó tựa như các làng xã sẽ vẫn tồn tại kể cả khi các đô thị đã sinh ra và phát triển đến tận cùng của sự hoàn thiện. Ngày nay, những chiếc đĩa mềm 1,44MB vẫn còn tác dụng trong nhiều trường hợp đặc biệt quan trọng, liên quan đến những ứng dụng với MS-DOS trong quá trình cấu hình, cài đặt các hệ thống máy tính. Và, tuy có sự tồn tại “dai dẳng” của đĩa mềm trước những bút nhớ USB 2.0; USB 3.0…, người dùng không chuyên có thể không cần đụng đến đĩa mềm nữa!

    Mấy hôm rồi, thế giới công nghệ kỷ niệm 25 năm ngày ra đời của đĩa CD. Họ nói “ngậm ngùi” cho CD trước sự bành trướng của các loại hình nhạc số sinh sau, dùng môi trường lưu trữ chip nhớ flash (MP3, MP4, iPhone, iPod...). Giới nghe nhạc không chuyên chấp nhận tin này tựa như tin đĩa mềm sẽ bị ổ USB thay thế. Nhưng, không! Ngay cả khi CD hoàn thiện, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của người nghe nhạc, những người nghe nhạc chuyên nghiệp cũng không từ bỏ LP, Cassette, Tape… vì những ưu điểm truyền thống của công nghệ analog trong tái tạo âm thanh: trung thực, tự nhiên. CD không có các ưu điểm này (đó là chưa kể tới việc những điểm nhị phân sáng tối lưu trữ thông tin cũng bị tia laser “bắn phá” và “huỷ diệt” khiến CD mờ đi sau mỗi lần sử dụng không khác gì việc rãnh đĩa LP mòn dần theo thời gian). Và, LP mới, Tape mới vẫn tiếp tục được sản xuất đáp ứng nhu cầu người nghe khó tính.

    Trở lại với MMDS và các dòng công nghệ khác không đề cập trong bài viết. MMDS phát truyền hình cáp qua vô tuyến. Người sử dụng thu sóng qua anten đặt trên nóc nhà của mình. Rất đơn giản tuy ở Việt Nam, công nghệ này có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường “nhiệt đới gió mùa”. Chắc chắn rằng các trang thiết bị cũ còn khấu hao hoặc giá trị sử dụng. Vì thế, bộ TTTT đã đặt lộ trình chấm dứt hoàn toàn sử dụng MMDS vào 2 năm sau. Với người bình thường và cả các thuê bao MMDS hiện tại, điều đó hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu, chuyên gia, công nghệ MMDS có thể vẫn còn tác dụng. Điều đó dẫn đến kiến nghị Chính Phủ nên dành một mẩu nhỏ trong dải tần 3G gọi là dải tần “bảo tàng MMDS” đủ để bảo tồn, "trưng bày" công nghệ này...

    Nguyễn Như Dũng

    ID: O0807_1