• Thứ Bảy, 13/12/2008 06:35 (GMT+7)

    Đôi điều về ứng dụng CNTT (tiếp theo kỳ trước)

    Có điều kiện sao chưa làm?

    Cụm từ "Ứng dụng CNTT" dường như không lột tả hết nội hàm của vấn đề. Cụm từ này gợi ra hình ảnh "cấy" CNTT từ bên ngoài vào một ngành nào đó, trong khi CNTT phải là một yếu tố, một bộ phận của "cơ thể" ngành. Không những thế, CNTT phải là bộ phận quan trọng, xuyên suốt trong mọi bộ phận khác, chẳng khác gì máu của cơ thể con người. Quy trình CNTT trong tất cả các hoạt động này là một hệ thống tổng hợp con người – máy, trong đó con người được huấn luyện, đào tạo thực hiện các chức năng cụ thể trong hệ thống, còn máy là máy tính điện tử, truyền thông và các thiết bị công nghệ khác.

    Đã đến lúc không thể chấp nhận một công trình xây dựng mà trong đó không tính đến việc thiết kế, lắp đặt mạng máy tính và truyền thông, không thể chấp nhận một công nghệ của bất kỳ ngành nào mà quá trình tạo ra sản phẩm lại không bao gồm một quy trình CNTT. Các quy trình CNTT phải trở thành tiêu chuẩn để xét duyệt đề án, duyệt cấp kinh phí.

    Cũng không thể chấp nhận tình trạng có những việc có thể thực hiện trên một quy trình CNTT nào đó, nhưng bộ, ngành chủ quản lại không tổ chức thực hiện dù đã có một nguồn nhân lực khoa học – công nghệ không nhỏ. Chẳng hạn, việc triển khai các chương trình nghiên cứu, các dự án, các đề tài nhà nước lẽ ra phải được thực hiện theo một quy trình CNTT. Cụ thể, việc đăng ký đề tài phải thực hiện trên mạng, xét duyệt sơ bộ trên mạng, công bố đăng ký đề tài, chương trình, đề án lên mạng cho mọi người xem, có ý kiến. Tất nhiên cũng cần có hội đồng nhưng không phải hội đồng nào cũng phải họp như hiện nay. Ngay cả việc quản lý chi tiêu của chương trình, đề án, đề tài cũng cần thực hiện trên mạng... Chắc chắn đối với giới khoa học, hầu hết sẽ dễ dàng thực hiện được quy trình này. Đặc biệt, ngành thông tin - truyền thông (TTTT) phải là nơi đi đầu thực hiện quy trình quản lý hành chính bằng CNTT để các bộ, ngành khác học tập. Ngành TTTT cũng cần thực hiện quản lý nghiên cứu theo quy trình trên mạng trước tiên.

    Nhân lực: đến từ nhiều nguồn

     
    Cần quan tâm đến việc bảo dưỡng, bảo trì hệ thống thông tin. Không ít hệ thống chết chỉ vì không được bảo trì, bảo dưỡng. Tốt nhất là nên ký hợp đồng với những công ty CNTT để làm bảo trì, bảo dưỡng.

    Phải xem đội ngũ cán bộ CNTT không chỉ là những cán bộ được đào tạo theo ngành CNTT, có văn bằng về CNTT mà còn là cán bộ các ngành khác được trang bị đủ kiến thức và kỹ năng để sử dụng CNTT trong hoạt động của ngành mình. Đó mới chính là lực lượng chủ yếu tạo ra những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao của ngành. Việc tuyển chọn cán bộ, nhân viên vào cơ quan nhà nước do đó phải theo tiêu chí có trình độ CNTT thực sự chứ không chỉ là văn bằng, chứng chỉ.

    Đối với lĩnh vực khoa học - công nghệ thì không còn trở ngại gì lớn cho việc ứng dụng CNTT, ngoài sự trì trệ trong quản lý. Đội ngũ chuyên gia của các ngành thuộc lĩnh vực này cũng chính là đội ngũ nhân lực CNTT của ngành. Họ có nhiều lợi thế trong tiếp cận và sử dụng CNTT so với chuyên gia các ngành khác.

    Ở lĩnh vực quản lý, trong đó có quản lý hành chính, các cán bộ, chuyên gia không gần gũi với CNTT và gặp nhiều khó khăn khi sử dụng CNTT trong công việc nên trang bị kiến thức và kỹ năng CNTT cho họ là việc làm cấp bách.

    Đội ngũ chuyên gia các ngành, nếu được đào tạo nghiệp vụ tại các trường ĐH mà chương trình đào tạo có hàm lượng tri thức và kỹ năng CNTT cao, cũng chính là chuyên gia CNTT cho ngành. Ý tưởng này đã được thể hiện ở một số trường ĐH, nhưng nhìn chung, qua chương trình khung đã được bộ Giáo Dục và Đào Tạo công bố vẫn còn rất mờ nhạt. Trong lúc đó, nhiều trường ĐH, CĐ lại đua nhau đào tạo ngành CNTT, đưa ra những sản phẩm mà nhiều nơi tuyển dụng nhận xét là không đáp ứng yêu cầu. Thủ Tướng chính phủ đã nêu giải pháp đào tạo văn bằng 2 về CNTT đã mấy năm nay nhưng rất ít nơi hưởng ứng.

    Những trường chuyên ngành CNTT và một số trường có bề dày đào tạo CNTT đã mở ra một số chuyên ngành CNTT như kỹ thuật máy tính, khoa học máy tính, công nghệ phần mềm, hệ thống thông tin. Nhưng hiện nay chưa có một trường nào có chuyên ngành "Ứng dụng CNTT". Tuy sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành đã có đều có thể làm ứng dụng CNTT và việc ứng dụng CNTT đều cần một số kiến thức kỹ năng của các chuyên ngành đó, nhưng ứng dụng CNTT còn đòi hỏi nhiều kiến thức khác. Vì thế cần nhanh chóng hình thành chuyên ngành ứng dụng CNTT cho đào tạo nhân lực CNTT ở nước ta.

    Mô hình: không nên dàn đều

    Để ứng dụng CNTT vào một ngành thì ngành đó cần có một tổ chức về CNTT. Không nên xây dựng tổ chức CNTT cho ngành theo mô hình dàn đều đầy đủ các bộ phận về CNTT, mà nên tập trung vào lực lượng ứng dụng CNTT cho ngành. Còn những công việc nặng về chuyên ngành CNTT nên hợp đồng với các công ty CNTT. Tất nhiên chức danh CIO cho ngành là không thể thiếu.

    Khi nói đến ứng dụng CNTT có hiệu quả, nhiều người nhấn mạnh việc nâng cao nhận thức. Đó là việc cần thiết, nhưng chỉ cấp thiết ở thời kỳ phôi thai, mới bắt đầu ứng dụng CNTT. Ngày nay, trong hàng ngũ cán bộ, nhân viên của nhà nước có lẽ không mấy người không nhận thức được ích lợi của ứng dụng CNTT. Chỉ có điều họ cố ý không hiểu vì đụng chạm đến quyền lợi cá nhân.

    Cần có biện pháp bảo trì bảo dưỡng những điểm văn hóa xã và tìm cách khai thác hệ thống này để phục vụ nông dân. Ví dụ, có thể liên kết với ngành GDĐT để học sinh, sinh viên lấy điểm văn hóa xã làm nơi thực hành, thực tập, cài đặt ứng dụng...
     

    Cũng có thể có những vấn đề về nhận thức, nhưng là những nhận thức về những công nghệ cụ thể, biện pháp cụ thể. Đó lại là một chuyện khác. Đối với những người đứng đầu bộ máy, mặc dù nhận thức được lợi ích của CNTT, nhưng do không biết thực hiện những thao tác đơn giản như truy cập internet, gửi nhận thư điện tử... nên rất có thể họ sẽ trở thành lực cản. Vì thế cần có biện pháp để người đứng đầu vượt qua được cái ngưỡng kỹ năng đơn giản này. Với những đối tượng như nông dân, thì cần nâng cao dân trí, tri thức, văn hóa. Điều quan trọng là có những mô hình ứng dụng mang lại hiệu quả thiết thực để thuyết phục.

    Nguyễn Lãm

    ID: B0812_72