• Thứ Hai, 20/04/2009 10:04 (GMT+7)

    Mô hình trung tâm dữ liệu “co dãn”

    Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn (SCB) đã đưa vào sử dụng trung tâm dữ liệu (Data Center, viết tắt là “TTDL”) theo mô hình SMDC (scalable modular: kiến trúc mô đun có năng lực “co dãn” mật độ điện toán cao). TGVT sê-ri B đã phỏng vấn ông Đỗ Đức Toàn, trưởng phòng CNTT SCB về kết quả sử dụng giải pháp TTDL này.

    Xin ông cho biết thực trạng và quy mô của TTDL này?

    Do nhu cầu cần cung cấp các dịch vụ ra bên ngoài tăng sự tiện ích cho khách hàng, SCB đã lên kế hoạch xây dựng TTDL từ cuối năm 2006. Đây là TTDL được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế và các tiêu chuẩn quy định của ngân hàng Nhà Nước (Quyết định 04/2006/QĐ-NHNN), đảm cho hoạt động của ngân hàng được liên tục (Business Continuity).

    Đây là giải pháp tổng thể theo mô hình SMDC do IBM trực tiếp tư vấn và thiết kế. Hệ thống CNTT của SCB được tập trung hóa và phân bố tại 2 địa điểm (site): trung tâm chính tại hội sở SCB TPHCM (Data Center - DC) và trung tâm dự phòng (Disaster Recovery - DR) tại Củ Chi.

    Ông Đỗ Đức Toàn

    Trong mô hình phân lớp về công nghệ vận hành kinh doanh liên tục (Business Continuity) thì hệ thống DC và DR của SCB đều ở tầng (tier) 7, là tầng cao nhất. Toàn bộ hệ thống dự phòng của SCB được thiết kế tự động kích hoạt trong vòng 5-10 phút khi TTDL chính gặp sự cố. Toàn bộ dữ liệu tại TTDL chính được lưu trữ đồng thời tại nơi phục hồi thảm họa (Disaster Recovery site) thông qua đường truyền cáp quang được lắp đặt riêng có băng thông 1Gb. Điều này đảm bảo toàn bộ dữ liệu về thông tin khách hàng, lịch sử giao dịch đều được lưu trữ 1 cách an toàn nhất, đảm bảo mọi hoạt động của ngân hàng không bị gián đoạn kể cả trong các tình huống xấu nhất như cháy nổ, đánh bom, động đất... Các ngân hàng khác trên thế giới cũng có những phương án như vậy.

    Hiện tại, SCB chưa ứng dụng đến công nghệ ảo hóa để tối ưu hóa tài nguyên. Chúng tôi vẫn chạy các ứng dụng khác nhau trên các máy chủ (cứng) riêng rẽ. Các ứng dụng của SCB bao gồm: lõi ngân hàng (core banking), giao dịch điện tử (e-Banking: SMS Banking, Internet Banking, Phone Banking) và các hệ thống chuyển mạch dữ liệu của các mạng tài chính.

    Mô hình hay kiến trúc SMDC là gì và mang lại hiệu quả như thế nào cho TTDL, thưa ông?

    TTDL này được xây dựng theo kiến trúc mô đun có năng lực “co dãn” mật độ điện toán của IBM (IBM Scalable Modular Data Center – SMDC) và được trang bị bằng các thiết bị tiết kiệm điện năng tiêu thụ, đáp ứng tiêu chuẩn “Trung tâm dữ liệu xanh” (Green Technology) của IBM.

    Như những gì các bạn đã tham quan ngay tại TTDL của SCB, chúng tôi còn nhiều tủ (rack) thiết bị còn trống; có nghĩa là khi cần, chúng tôi vẫn có thể tăng mật độ điện toán của SCB bằng cách gắn thêm vào các máy chủ và thiết bị khác. Đây là những gì IBM đã tư vấn và thiết kể để sau này chúng tôi có thể tiếp tục nâng cấp và mở rộng bằng cách chuyển sang hệ thống máy chủ phiến mỏng (blade server) để đạt được số lượng máy chủ/rack cao hơn hay đặt thêm các tủ thiết bị mới trên diện tích còn trống của TTDL. Chính nhờ vào qui cách chuẩn hóa (modular) của thiết bị nên các TTDL dễ dàng tháo/lắp, nâng cấp và mở rộng hệ thống (scalable).

    Sau 1 thời gian sử dụng, SMDC cho phép SCB giảm gần 15% chi phí thiết kế TTDL (so với giải pháp TTDL sử dụng sàn nâng kiến trúc cũ); giảm tới 20% chi phí triển khai và 40% chi phí hoạt động. Vì giải pháp SMDC không đòi hỏi sàn nâng, SCB cắt giảm được xấp xỉ 40% diện tích cần thiết. Như vậy, giải pháp SMDC do IBM triển khai giúp SCB tiết kiệm diện tích, hạ thấp chi phí điện năng, đáp ứng nhu cầu về điện toán hiện tại cũng như có thể mở rộng nhu cầu kinh doanh trong tương lai.

    Hiện nay, TTDL chính (DC) của SCB có 13 tủ rack, bao gồm 6 máy chủ dạng “rack server”, 3 tủ chứa thiết bị lưu điện (Battery & UPS), 2 tủ gắn thiết bị điều hòa không khí (Air-Conditioning), 2 tủ chứa thiết bị mạng (Network Equipment). Tại TTDL dự phòng (DR) có 9 tủ: 3 tủ chứa máy chủ, 3 tủ chứa thiết bị lưu điện, 2 tủ chứa máy lạnh và 1 tủ chứa thiết bị mạng. Ngoài ra, cả 2 trung tâm này đều có 2 thiết bị chuyển mạch Core Switch Cisco 45xx (1 cái ở chế độ “chờ” (standby) và 1 hệ thống lưu trữ mạng IBM (IBM SAN). Tổng chi phí cho việc xây dựng DC và DR là khoảng 1 triệu USD có máy chủ theo dõi toàn bộ hoạt động của DC và DR- chưa bao gồm việc trang bị các máy chủ ứng dụng (gắn vào khi có nhu cầu), phần mềm, thiết bị mạng khác. Cả 2 trung tâm sử dụng đường truyền ISDN (Integrated Services Digital Network - mạng số tích hợp dịch vụ) riêng và dự phòng bằng đường truyền băng thông rộng (do VNN cung cấp) dự phòng. Đi kèm với các giải pháp của IBM còn có các thiết bị và dịch vụ khác từ các hãng như APC, Investek...

    Ông có thể cho biết về kế hoạch phát triển ứng dụng CNTT tại SCB ?

    Năm 2007 đánh dấu việc SCB và IBM ký thỏa thuận đối tác chiến lược. Trong đó, SCB chỉ định IBM là nhà cung cấp CNTT chính và ưu tiên của SCB, đồng thời IBM sẽ hỗ trợ SCB trong quá trình phát triển chiến lược CNTT giai đoạn 2007-2012, đặc biệt chú trọng đến việc cập nhật các thông tin liên quan đến xu hướng phát triển của ngành ngân hàng tài chính trên thế giới cũng như việc ứng dụng CNTT trong lĩnh vực ngân hàng tài chính. Dự kiến, đến tháng 7/2009, SCB sẽ chuyển sang sử dụng hệ thống Temenos cho các dịch vụ ngân hàng: rút tiền, chuyển tiền và gia nhập liên minh thẻ Visa, Master...

    Ra mắt SAP Business Suite 7 và SAP ERP tiếng Việt
    Tại ngày hội thông tin SAP Việt Nam ở TP.HCM 11/3/2009, SAP đã giới thiệu phần mềm SAP Business Suite 7 và SAP ERP phiên bản tiếng Việt.
    Với các giải pháp SAP mới, doanh nghiệp sẽ không cần điều chỉnh hoặc phát triển các đặc thù riêng (customize) vì đây là phiên bản tiêu chuẩn và không phải bận tâm về việc nâng cấp trong tương lai. Ngoài ra, phiên bản phần mềm SAP tiếng Việt còn hỗ trợ doanh nghiệp triển khai nhanh và dễ sử dụng, không phải mất thời gian dịch các thuật ngữ. Được biết, phiên bản tiếng Việt của SAP có hơn 15.000 thuật ngữ chuyên ngành và SAP đã cùng các đối tác là FPT, Global Cybersoft kiểm tra tính chính xác của các thuật ngữ. SAP kỳ vọng các doanh nghiệp Việt Nam sẽ “nâng cấp” được hoạt động doanh nghiệp, kiểm soát được nhiều thông tin hơn, ra quyết định nhanh chóng hơn và nâng cao khả năng cạnh tranh khi ứng dụng các phần mềm này...
    Tuy nhiên, ông Francis Lee, tổng giám đốc SAP Việt Nam cho rằng khi ứng dụng giải pháp quản trị, khó khăn lớn nhất là khả năng thích ứng của người sử dụng cũng như sự sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt Nam; việc tập trung vào những quy trình nghiệp vụ đặc thù cũng là một thách thức.
    Hồng Vinh

    Oracle BI/EPM: Giải pháp cho lãnh đạo doanh nghiệp
    Công ty cổ phần Thương Mại Công Nghệ Mới Kim Tự Pháp đã trình diễn giải pháp Oracle BI/EPM dành cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp (DN) tại TP.HCM, ngày 26/3/2009.
    Oracle Business Intelligence (Oracle BI) hướng tới các nhà lãnh đạo DN, hỗ trợ để ra quyết định; Còn Oracle Enterprise Performance Management (Oracle EPM) trợ giúp cho vấn đề quản lý (QL) thành tích của tất cả các phòng ban, bộ phận của công ty như: hàng tồn kho, khách hàng, báo cáo (BC), tài chính, kinh doanh, dịch vụ... Với tính năng BC quản trị, hệ thống được thiết kế sẵn để DN có thể sử dụng ngay những BC viết sẵn, qua đó giúp nhà QL nhìn thấu đáo hơn hoạt động cũng như kết quả theo từng lĩnh vực.
    Oracle BI/EPM cho phép lập ngân sách và kế hoạch không chỉ đơn thuần là chi phí mà liên quan đến tất cả các phạm trù của DN như: tài lực, vật lực, nhân lực..., qua đó giúp nhà QL lên được kế hoạch tương đối tổng quan, số liệu chi tiết. Các ứng dụng này cho phép nhà QL đánh giá thành tích hoạt động của từng cá nhân, từng phòng ban... Phần mềm còn cho phép QL BC tài chính hợp nhất, QL những mô hình đầu tư mang tính chất phức tạp, chẳng hạn mô hình công ty lớn đầu tư vào các công ty “con”.
    Hải Thanh

    Hồng Vinh

    ID: B0904_54