• Thứ Hai, 27/04/2009 16:04 (GMT+7)

    Ứng dụng CNTT trong CQNN giai đoạn 2009 - 2010

    Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2009 – 2010 đã đề ra các mốc tin học hoá và lộ trình cụ thể, chi tiết.

    Tạp chí Thế Giới Vi Tính - PC World Vietnam đã phỏng vấn ông Nguyễn Phú Tiến, trưởng phòng Kế Hoạch, cục Ứng Dụng CNTT, bộ TTTT.

    Chào ông! Trong kế hoạch cung cấp dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) cho người dân, doanh nghiệp (DN) đã nêu cụ thể số lượng, mức độ cũng như thời gian phải đạt được của DVCTT. Vậy, ông cho biết DVCTT như thế nào là đạt mức 1; 2; 3; 4?

    Ông Nguyễn Phú Tiến.
    Ông Nguyễn Phú Tiến: DVCTT ở các mức độ được hiểu như sau:

    1. DVCTT mức độ 1 cung cấp đầy đủ hoặc phần lớn các thông tin giới thiệu về DV gồm: quy trình thực hiện DV (ví dụ như sở cứ, cơ quan (CQ) thực hiện, địa chỉ...); thủ tục; các giấy tờ cần thiết; các bước tiến hành; thời gian thực hiện; chi phí 
    2. DVCTT mức độ 2 ngoài đạt được các điều kiện ở mức 1 còn cho phép người sử dụng tải về các mẫu đơn, hồ sơ để người sử dụng có thể in ra giấy, hoặc điền vào các mẫu đơn. Việc nộp lại hồ sơ sau khi hoàn thành được thực hiện qua đường bưu điện hoặc người sử dụng trực tiếp mang đến CQ thụ lý hồ sơ
    3. DVCTT mức độ 3 ngoài đạt được các điều kiện ở mức 2 còn cho phép người sử dụng điền trực tuyến vào các mẫu đơn, hồ sơ và gửi trực tuyến các kết quả điền tới CQ và người thụ lý hồ sơ. Các giao dịch trong quá trình thụ lý hồ sơ và cung cấp DV được thực hiện qua mạng. Tuy nhiên, việc thanh toán chi phí và trả kết quả sẽ được thực hiện khi người sử dụng dịch vụ đến trực tiếp CQ cung cấp DV
    4. DVCTT mức độ 4 ngoài đạt được các điều kiện ở mức 3 còn cho phép thanh toán chi phí trực tuyến, việc trả kết quả có thể trực tuyến hoặc qua đường bưu điện.

    Được biết, Chính Phủ (CP) đã có quy định cán bộ/công chức (CB/CC) phải có và sử dụng hộp thư điện tử (không dùng các webmail thường). Ông có thể cho biết tình hình sử dụng thư điện tử (email) nói chung ở các CQ chính phủ (bộ ngành, tỉnh thành...) hiện nay và ý nghĩa của việc bắt buộc CB/CC sử dụng email công vụ.

    Ngày 3/12/2008, Thủ Tướng CP đã ban hành chỉ thị số 34/2008/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng hệ thống email trong hoạt động của CQ nhà nước (NN), xác định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, của lãnh đạo, CB/CC trong các CQNN trong việc bảo đảm các điều kiện triển khai hệ thống email và tăng cường sử dụng hệ thống email trong công việc. Thực hiện Chỉ Thị, hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã triển khai xây dựng và sử dụng hệ thống email trong công việc. Số CB/CC đã có email để sử dụng tương đối cao. Trung bình với các bộ là khoảng 75%, các tỉnh/thành phố (đến cấp sở, ban, ngành, quận, huyện) khoảng 40%. Các địa phương khó khăn vẫn phải tận dụng các dịch vụ email miễn phí như yahoo, gmail...). Các tỉnh tiêu biểu cung cấp email công vụ đến nhiều CB/CC như: Quảng Ngãi (80%); Lạng Sơn (100%); Huế (100%).

    Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng email trong công việc nói chung chưa cao, tỷ lệ trung bình số CB/CC có email thường xuyên sử dụng email trong công việc khoảng 50%. Tại một số tỉnh chỉ khoảng 10-20%,. Nguyên nhân chính là do đa số các CQ chưa có quy chế sử dụng email để bắt buộc sử dụng email trong công việc; CB lãnh đạo chưa gương mẫu sử dụng email trong công tác quản lý, điều hành; CB/CC chưa có thói quen và được đào tạo kỹ năng sử dụng thành thạo email.

    Để tăng cường sử dụng hiệu quả email trong các CQNN trong thời gian tới, thực hiện thành công mục tiêu đặt ra tại quyết định số 48/2009/QĐ-TTg (QĐ 48), đến hết năm 2010 có “tỷ lệ trung bình CB/CC sử dụng thư điện tử cho công việc ở các bộ, CQ ngang bộ, CQ thuộc Chính Phủ, UBND thành phố trực thuộc Trung Ương (TW) là 80% (năm 2009: 70%); UBND tỉnh 60% (năm 2009: 50%), trong đó các tỉnh miền núi (tới cấp huyện) 30% (năm 2009: 20%)”, các bộ, ngành, địa phương ngoài việc bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, còn phải khẩn trương đưa ra những quy định khuyến khích, bắt buộc CB/CC sử dụng email trong công việc.

    CP đã có phiên họp giao ban tháng 3/2009 trực tuyến đầu tiên rất thành công. Việc triển khai hạ tầng kỹ thuật cho sự kiện này đã nhanh chóng và xuất sắc. Ông có cho rằng đó là tiền đề tốt để CP phát triển trong thời gian ngắn hạ tầng truyền thông làm nền tảng phục vụ CP điện tử (CPĐT)? Hạ tầng này với hạ tầng Internet cho toàn xã hội có gì khác?

    Việc tổ chức phiên họp giao ban trực tuyến của CP thành công là một minh chứng thể hiện rõ hiệu quả của ứng dụng CNTT trong hoạt động của CP nói riêng và của các CQNN nói chung. Điều này thể hiện rõ quyết tâm của CP trong việc ứng dụng CNTT nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời cũng là cơ sở, bài học để tiếp tục phát triển hạ tầng truyền thông phục vụ CPĐT.

    Tuy nhiên, qua đó không thể khẳng định việc phát triển hạ tầng truyền thông phục vụ CPĐT có thể thực hiện trong thời gian ngắn. Vì đây là công việc lâu dài, liên tục đáp ứng nhu cầu triển khai CPĐT ở các mức độ khác nhau, giai đoạn khác nhau, không chỉ phục vụ giao ban trực tuyến, mà còn phục vụ việc kết nối giữa các CQNN với nhau, với người dân và DN. Các nước trong khu vực có CPĐT phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đã phải mất nhiều năm mới có thể xây dựng được hạ tầng truyền thông cơ bản phục vụ CPĐT và ngày nay họ vẫn phải tiếp tục công việc này để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các DV CPĐT.

    Hạ tầng truyền thông phục vụ CPĐT gồm 2 mạng chức năng: Mạng kết nối giữa các CNQN với nhau và mạng kết nối giữa các CQNN với người dân và DN. Để kết nối giữa các CQNN với nhau trên diện rộng, hiện nay chúng ta đang xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các CQ Đảng, NN. Theo QĐ 48, đến hết năm 2010, “Hoàn thành việc xây dựng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các CQ Đảng, NN”. Việc giao tiếp của CQNN với người dân và DN sẽ thông qua mạng Internet, trong đó các DV truy cập Internet do các DN CNTT-TT đảm nhiệm. Vấn đề đặt ra đối với các CQNN là phải tạo được môi trường tốt để các DN có thể cung cấp các DV Internet tốc độ cao, giá thành rẻ cho người dân.

    Một mấu chốt của phát triển nguồn lực CNTT phục vụ thực hiện Kế Hoạch là bảo đảm điều kiện sống và làm việc cho CB/viên chức (VC) CNTT. Xin ông giới thiệu hướng giải quyết đã áp dụng ở một số nơi và cách áp dụng trên toàn quốc?

    Bảo đảm điều kiện sống và làm việc cho CB/VC CNTT là một trong những vấn đề mấu chốt để có đủ nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT trong các CQNN, phát triển CPĐT. Trong thời gian qua, một số địa phương đã ban hành các chính sách trợ cấp ưu đãi cho CB/VC CNTT, tiêu biểu như TP.HCM; Hà Nội; Thừa Thiên - Huế với các mức trợ cấp khác nhau tùy thuộc điều kiện từng địa phương, trình độ của CB/VC. Tuy nhiên, số địa phương triển khai được công việc này còn rất ít, chủ yếu tại các tỉnh, thành có điều kiện kinh tế tốt cùng với sự quyết tâm của lãnh đạo các cấp trong việc thúc đẩy ứng dụng CNTT. Với thực trạng trên, cần có một chính sách ưu đãi chung của NN cho các CB/VC CNTT trong toàn quốc. Tại QĐ 48, Thủ Tướng CP đã giao bộ Nội Vụ “chủ trì nghiên cứu xây dựng chính sách ưu đãi thích hợp cho CB/CC chuyên trách về CNTT trong CQNN”.

    Ông có thể giới thiệu kế hoạch đảm bảo kinh phí thực hiện kế hoạch trên. Ví dụ như, để có hệ thống hạ tầng phục vụ CPĐT, quốc gia cần đầu tư bao nhiêu? Hay như, với mỗi DVCTT ở từng mức độ, cần có bao nhiêu kinh phí? Các tỉnh thành không nằm trong 48 địa phương được TW hỗ trợ kinh phí sẽ tự lo như thế nào? Các tỉnh được TW hỗ trợ thì sẽ được hỗ trợ ra sao?

    Ứng dụng CNTT vào giải quyết hồ sơ nhà đất cho người dân và DN tại Q.Bình Tân, TP.HCM - hình minh hoạ của tạp chí Thế GIới Vi Tính - PC World Vietnam.
    Trong QĐ 48 đã nêu rõ nguồn kinh phí thực hiện Kế Hoạch như sau:

    1. Ngân sách TW đảm bảo kinh phí để triển khai thực hiện những dự án, nhiệm vụ mang tính quốc gia phục vụ cho cả hệ thống, hỗ trợ 1 phần kinh phí cho các địa phương thực sự khó khăn trên cơ sở nhu cầu của địa phương và khả năng cân đối của ngân sách TW. Bộ TTTT phối hợp bộ KHĐT, bộ Tài Chính trình Thủ Tướng quyết định mức hỗ trợ cụ thể 
    2. Các bộ, CQ ngang bộ, CQ thuộc CP bảo đảm kinh phí thực hiện các dự án, nhiệm vụ phục vụ cho hoạt động của mình từ dự toán chi ngân sách hàng năm được cấp có thẩm quyền giao và từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác, nếu có 
    3. Ngân sách địa phương bảo đảm thực hiện các dự án, nhiệm vụ phục vụ cho hoạt động thuộc phạm vi địa phương.

    QĐ 48 cũng đã xác định rõ danh mục các dự án, nhiệm vụ ứng dụng CNTT giai đoạn 2009-2010 được ngân sách TW bảo đảm và danh sách 48 tỉnh được xem xét hỗ trợ kinh phí từ ngân sách TW để triển khai ứng dụng CNTT. Các CQ này có trách nhiệm xây dựng, thẩm định và phê duyệt các dự án, nhiệm vụ ứng dụng CNTT theo đúng các quy định hiện hành, gửi về bộ TTTT trước ngày 15/7/2009 để thẩm tra, tổng hợp trình Thủ Tướng CP quyết định bổ sung dự toán ngân sách năm 2009 và bố trí trong dự toán ngân sách năm 2010.

    Trong giai đoạn 2009 – 2010, ưu tiên triển khai các nhóm DVCTT mức độ 3 sau đây:

    a/ Cấp giấy đăng ký kinh doanh
    b/ Cấp giấy phép đầu tư
    c/ Cấp giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện
    d/ Cấp giấy phép xây dựng
    e/ Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
    g/ Cấp giấy đăng ký ô tô, xe máy
    h/Cấp giấy đăng ký tạm trú, tạm vắng
    i/ Giải quyết khiếu nại, tố cáo
    k/ Cấp giấy đăng ký hành nghề y, dược
    l/ Cấp giấy phép hoặc dịch vụ đặc thù.

    (Nguồn: Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ).

    Nguyễn Như Dũng (thực hiện).

    ID: O0904_1