• Thứ Sáu, 10/07/2009 08:36 (GMT+7)

    Ngân hàng thời cạnh tranh

    Sự kiện Banking Việt Nam 2009 diễn ra trong bối cảnh các ngân hàng (NH) nội địa đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn: khủng hoảng tài chính đang diễn ra trên toàn cầu; các NH nước ngoài ồ ạt mở rộng hoạt động kinh doanh đến Việt Nam.

    Quản lý rủi ro – vấn đề nóng

    Sau gần hai ngày diễn ra hội thảo (28, 29/5/2009), rất nhiều đại diện ngành NH vẫn ở lại đến cuối để dự phiên hỏi đáp. Các câu hỏi tập trung nhiều vào nội dung quản lý rủi ro (QLRR) cho thấy đây là mối quan tâm lớn của rất nhiều NH.

    Có đại biểu đặt vấn đề “Rủi ro giống như tảng băng chìm, làm sao nhận biết được rủi ro tiềm ẩn”? Bà Tsuruzi Sakamaki, chuyên gia của Tổ chức Hợp tác phát triển Nhật bản

    (JICA) đã chia sẻ 4 yếu tố để QLRR hiệu quả. Thứ nhất “giám sát bằng 4 mắt”. Đây là thuật ngữ riêng của QLRR trong NH. “Giám sát bằng 4 mắt” nghĩa là hai người cùng làm một việc. Người nọ giám sát người kia. Như vậy, theo bà Tsuruzi, “văn hóa trong DN cực kỳ quan trọng”. Thứ hai, chính sách quản lý cần đưa thành văn bản. Thứ ba, để QLRR cần công nghệ. Công nghệ giúp tính toán nhanh, báo cáo nhanh nhờ đó phát hiện ra nguy cơ kịp thời. Thứ tư, NH nào cũng cần có bộ phận QLRR độc lập và nhân viên của bộ phận QLRR phải chuyên trách, không tham gia vào nghiệp vụ NH và có kỹ năng về QLRR.

    Bà Tsuruzi cũng chia sẻ mô hình quản trị rủi ro tại Nhật Bản. Theo đó, một tổ chức chuyên quản lý các hoạt động của NH, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý rủi ro đã được thành lập cách đây 8 năm. Đến năm 2004, các NH ở Nhật Bản đã đi đến thống nhất về mô hình QLRR trong đó có hệ thống để giảm các rủi ro thị trường. Bộ phận này chuyên đến các NH để đánh giá các quy trình, nguy cơ rủi ro của NH. Việc kiểm tra diễn ra định kỳ cùng với các công nghệ đi kèm và dựa trên chuẩn Bazen 2 về QLRR.

        70% cho rằng phòng, ban QLRR ngày càng có ảnh hưởng trong nội bộ
    76% cho rằng phòng, ban QLRR đóng vai trò hỗ trợ
    45% cho rằng Ban giám đốc thiếu kiến thức và kinh nghiệm về QLRR
    77% cho rằng cần truyền đạt kiến thức về QLRR trong tổ chức, đặc biệt là lời nói từ cấp cao
    (theo kết quả khảo sát 500 nhà quản lý NH hàng đầu thế giới của KPMG)

    Ông Hemanta Banerjee, giám đốc công nghệ dòng sản phẩm BI, khu vực Đông Nam Á của Oracle nhận định “ai cũng có nhu cầu tăng trưởng nhưng không phải ai cũng quản lý được rủi ro”. Trong bài phát biểu của mình, ông Hemanta đã chỉ ra “Rủi ro phải được giải quyết một cách tổng thể. Nhưng tốt hơn hết, hệ thống QLRR nên có khả năng phỏng đoán”. Hiện Oracle đang cung cấp hệ thống EPM có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu này của ngành NH.

    Đồng quan điểm đó, ông Robert Ingham, chuyên gia cao cấp về Thị trường Tài chính và quản trị rủi ro của IBM, cho rằng “phải đánh hơi được các sự cố từ bên trong, bên ngoài”, Ông Robert đã đưa ra 7 giải pháp để xây dựng hạ tầng NH năng động là: Quản lý dịch vụ; Quản lý tài sản; Ảo hóa; An ninh; Hạ tầng; Chính sách an ninh và Hạ tầng về thông tin. Các giải pháp này sẽ có ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của NH gồm: cải tiến dịch vụ, giảm chi phí, quản lý rủi ro, đánh giá lợi ích tiềm tàng, các tiêu chí cho thành công.

    Có 2 phương pháp đầu tư công nghệ trong NH, là “bottom up” (NH sẽ nhìn từ sản phẩm để đưa ra nhu cầu ứng dụng CNTT như thế nào) và “top down” (NH sẽ đưa ra định hướng mục tiêu cũng như tầm nhìn chiến lược, từ đó chọn những giải pháp CNTT phù hợp và xây dựng hạ tầng cơ sở).
    Theo tôi, phương pháp thứ hai tuy tốn kém chi phí trong thời gian đầu nhưng lại mang đến hiệu quả lâu dài, giúp NH dễ dàng phát triển và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, mở rộng mạng lưới chi nhánh...”
    Ông Đinh Quang Nương, phó tổng giám đốc NH Đông Á.

    Nâng cao năng lực cạnh tranh

    Theo nhận định của nhiều chuyên gia, trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, ưu thế đang thuộc về các NH nước ngoài bởi họ có thể tận dụng các công nghệ từ NH mẹ. Nhờ có công nghệ hiện đại, các NH nước ngoài xử lý các yêu cầu của KH nhanh gọn, đơn giản các thủ tục, tạo thuận lợi cho KH. Tuy nhiên, ở một góc nhìn tích cực, ông Dương Dũng Triều, phó tổng giám đốc công ty Hệ thống Thông tin FPT lại cho rằng “đây chính là cơ hội cho các NH trong nước học hỏi kinh nghiệm từ việc quản lý của các NH nước ngoài, lành mạnh hóa hệ thống NH Việt Nam để đuổi kịp NH nước ngoài”. Vấn đề đặt ra là NH trong nước nên đầu tư công nghệ gì, triển khai dịch vụ gì?

    Các tham luận tại Banking Việt Nam 2009 đã giới thiệu rất nhiều công nghệ mới như nền tảng công nghệ động và giải pháp quản trị nội dung của IBM, kho dữ liệu tối ưu của Oracle, dịch vụ chăm sóc KH của Avaya,... Bên cạnh đó, kiến trúc kinh doanh lấy khách hàng làm trọng tâm (SOA) cùng với việc phát triển các công cụ Marketing, phân tích kinh doanh và quản lý quan hệ với KH sẽ là đòn bẩy giúp NH tăng cường khả năng cạnh tranh. Dựa trên các nền tảng công nghệ đó, NH có thể hiện thực hóa chiến lược đa dạng hóa dịch vụ nhằm mở rộng thị trường, thu hút khách hàng.

    Đầu tư giải pháp an ninh bảo mật của các NH tùy thuộc vào mục tiêu phát triển của NH đó. Có hai xu hướng chính: đầu tư hệ thống back office và hệ thống dịch vụ cung cấp cho KH. Hiện nhiều NH triển khai dịch vụ Internet Banking nên thường quan tâm đến bảo mật giao dịch, danh tính, xác thực hai nhân tố, chữ ký điện tử. Các NH muốn bảo mật cho hệ thống back office thường quan tâm sâu hơn đến các thiết bị chống xâm nhập (IPS), các giải pháp phòng chống thất thoát thông tin (DLP) và việc tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn thông tin như SOX, Basel II, PCI, ISO 27001...”
    Ông Trần Xuân Sơn, công ty M.Tech.

    Thu Nga

    ID: B0907_14