• Thứ Sáu, 02/10/2009 08:45 (GMT+7)

    Hướng đi sau mùa thi

    Năm 2009 sẽ có khoảng 300 ngàn TS không đậu CĐ, ĐH! Những TS này không nên ngồi buồn mà hãy tham khảo các hướng đi dưới đây để chọn cho mình một hướng đi phù hợp!

    Thực Trạng

    300 ngàn TS không đậu CĐ, ĐH

    Hiện chưa có con số chính xác về số lượng TS trượt CĐ, ĐH, vì một TS được phép nộp nhiều hồ sơ, thi nhiều khối nên có thể đậu nhiều nơi hoặc trượt nhiều chỗ! Hơn nữa, việc xét tuyển các nguyện vọng tiếp theo cũng mang tính may rủi, nếu nhiều TS cùng nộp nguyện vọng 2, 3 vào một trường sẽ nhiều em trượt dù điểm cao(nộp nguyện vọng 2,3 vào một trường sẽ không còn giấy báo để nộp vào trường khác), vì số chỉ tiêu hạn chế, trong khi trường khác có thể chưa tuyển đủ.

    Theo số liệu chính thức của bộ Giáo dục và Đào tạo, số lượng TS dự thi ĐH đợt 1 (chủ yếu khối A) là 638 ngàn, đợt 2 (khối B, C, D) là 624 ngàn. Với điểm sàn được Bộ công bố, có 212 ngàn TS thi khối A trên điểm sàn, và 197 ngàn TS thi các khối B,C,D trên điểm sàn. Chỉ tiêu của 4 khối A, B, C, D là 236 ngàn. Cộng 4 khối A, B, C, D không có ý nghĩa gì, khi TS được phép thi cả 2 đợt và đa số đều tận dụng khả năng thi 2 đợt. Các khối khác chiếm thiểu số nên bỏ qua không tính. Sơ bộ có khoảng 700 ngàn “lượt” thi trượt khối A, B, C, D, do TS thi 2 đợt cho nên có em đậu đợt 1 trượt đợt 2, có em đậu đợt 2 trượt đợt 1, có em đậu cả 2 đợt, và có em trượt cả 2 đợt.

    Gần 400 ngàn TS trượt khối A, xem như trong số này có thêm 50 ngàn may mắn vào đuợc khối B, con số ước tính trượt cả 2 đợt khoảng 350 ngàn. Trong số này có thêm 50 ngàn đậu CĐ (thi đợt 3). Như vậy, trượt CĐ, ĐH chính thức khoảng 300 ngàn.

    Một cách tính khác, tổng chỉ tiêu CĐ, ĐH chính quy năm 2009 khoảng 525 ngàn. Các trường thường tuyển lố khoảng 10% đến 15% nên chỉ tiêu thực tế khoảng 600 ngàn. Tổng số lượng TS học hết lớp 12 và thi đậu tốt nghiệp phổ thông trung học 2009 (cả bổ túc) là 818 ngàn, chênh lệch 218 ngàn. Cộng thêm số TS trượt từ các năm trước thi lại truợt tiếp, con số cũng khoảng 300 ngàn.

    Khối
    Số lượng dự thi (ngàn) Số chỉ tiêu (ngàn) Số TS trên điểm sàn (ngàn)
    A (đợt 1, cả khối V, nhưng chỉ chiếm phần nhỏ)
    638 143 212
    B,C,D (đợt 2, tổng 3 khối)
    624 93 197

    “Cung” vượt “cầu”

    “Cung” là số ghế, số chỉ tiêu đào tạo mà các trường ĐH, CĐ có khả năng cung cấp, “cầu” là số TS muốn vào học CĐ, ĐH. Số liệu về chỉ tiêu do từ thông tin của các bộ chức năng như sau:

    Đợt thi “3 chung” rầm rộ tháng 7/2009 là thi vào chính quy (không tính CĐ nghề vì hệ này không thi). Ngoài chỉ tiêu học CĐ, ĐH chính quy, còn có các hình thức học CĐ, ĐH khác: Vừa học vừa làm (tại chức cũ); Học liên thông (trung cấp lên CĐ, CĐ lên ĐH); Học từ xa, qua mạng - đây là hình thức học mới, chưa phổ biến rộng; Học cao đẳng nghề, là hệ CĐ mới triển khai được 3 năm, do bộ Lao động Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTB-XH) quản lý trực tiếp, không phải thi như CĐ “không nghề” do bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý; Học theo các chương trình hợp tác (du học toàn phần/bán phần) tại nhiều trường công lập cũng như ngoài công lập; Học lấy bằng Diploma (tương đương CĐ), do nước ngoài cấp, nhưng học tại Việt nam; Du học nước ngoài. Thủ tục chủ yếu qua các công ty du học.

    Chỉ tiêu 2009
    Hệ chính quy Hệ vừa học vừa làm, liên thông, từ xa Cộng
    Đại học
    256.552 268.755 525.307
    Cao đẳng
    245.835 110.000 355.835
    Cao đẳng nghề
    100.000   100.000
    Cộng
    602.387 378.755 981.142

    Chưa tính học theo chương trình hợp tác, chương trình Diploma, du học, chỉ tính tổng các chỉ tiêu CĐ, ĐH năm 2009 đã lên đến con số trên 980 ngàn TS. Năm 2009, số học sinh thi đậu tốt nghiệp phổ thông trung học là 818 ngàn.

    “Cung” đã vượt “cầu”, hay nói cách khác, sau một thời gian phát triển các loại hình đào tạo, năm 2009 là năm đầu tiên cánh cửa CĐ, ĐH mở ra cho mọi TS đã tốt nghiệp phổ thông (chưa tính đến khía cạnh do khó khăn về tài chính. Mở nhưng vẫn có thể đóng với gia đình nghèo). Đáng tiếc là thông điệp này không được đưa ra xã hội nên cơn sốt thi cử và tâm lý bi quan khi trượt vẫn chi phối TS, phụ huynh…!

    CÁC HƯỚNG ĐI

    Hướng đi chung

    Tiến sĩ Lê Trường Tùng

    Tiến sĩ Lê Trường Tùng, hiệu trưởng trường đại học FPT khuyên các TS, nếu không tiếp tục luyện thi để chờ năm sau thi lại, có nhiều con đường CĐ, ĐH rộng mở cho TS, với các mức chi phí khác nhau:

    1. Học ĐH theo hình thức vừa học vừa làm (tại chức). Trước đây, quy định phải đi làm 2 năm mới được học, nay thì nói chung mở rộng cửa. Đây là “nồi cơm” của các trường ĐH (theo lời của phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân), vì học phí cao hơn (khoảng 150% học phí bình thường), liên kết giữa các trường trung ương và địa phương, đặc biệt là qua các trung tâm giáo dục thường xuyên khá dễ dàng. Bộ quy định chỉ tiêu hệ này không quá 90% chỉ tiêu chính quy, nhưng nói chung nhiều trường vượt. Các chỉ tiêu chính quy được công khai chứ chỉ tiêu loại này thì khá “mờ ảo”. Mỗi năm hệ này thi 4 đợt, mang tính hình thức là chính. TS nào chỉ cần bằng thì hệ ĐH này dễ vào, song chất lượng thì thực sự có vấn đề (“dốt chuyên tu, ngu tại chức”)!

    2. Học cao đẳng nghề: các trường CĐ nghể mở khắp nơi và tập trung vào các ngành “hot”. Thủ tục nhập học dễ dàng. 100 ngàn chỉ tiêu cho năm 2009 có thể giải quyết được khá nhiều nhu cầu học tập của TS. Ưu điểm của hệ này là không phải thi phức tạp ở quy mô quốc gia như CĐ “không nghề”. Nhược điểm là liên thông học cao hơn có hạn chế trong nước, còn liên thông ĐH nước ngoài thì không có vấn đề gì.

    3. Học từ xa, qua mạng: hình thức này chưa phổ biến lắm, nhưng cũng là một lựa chọn. Theo học hình thức này tính tự giác của TS phải rất cao nếu muốn đi đến tận cùng để có bằng.

    4. Học theo chương trình hợp tác lấy bằng do ĐH nước ngoài cấp. Chọn học hình thức này, học phí cao, khó học hơn. Tuy nhiên, chương trình không nặng. Các trường tuyển sinh quanh năm.

    5. Học lấy bằng Diploma do các cơ sở đào tạo của nước ngoài mở tại Việt Nam, hoặc các cơ sở đào tạo Việt Nam liên kết với nước ngoài thực hiện. Bằng Diploma có thể xem tương đương CĐ, với định hướng nghề nghiệp khá rõ và có thể liên thông lên ĐH với bằng do nước ngoài cấp.

    Một cánh cửa khác đó là: các trường trung cấp đang rộng mở và luôn than phiền về việc khó tuyển đủ chỉ tiêu!

    Hướng đi phù hợp từng hoàn cảnh

    Tiến sĩ Tùng cho rằng, CNTT là ngành “hot” nên tất cả các hình thức đào tạo đều có ngành CNTT với số lượng tuyển sinh lớn. Nếu trượt CĐ, ĐH chính quy, các TS có thể lựa chọn:

    1. Du học. Thực tế khá nhiều TS thi trượt ĐH, du học tiếp cận với nền giáo dục chất lượng cao, về sau trình độ và khả năng phát triển cao hơn hẳn các bạn cùng học trong nước. Các trung tâm du học sẵng lòng cung cấp thông tin và hỗ trợ thủ tục, hưởng phí dịch vụ do các trường TS theo học trả. Các trung tâm du học cạnh tranh bằng các hình thức khuyến mãi: miễn phí làm visa, tặng vé máy bay chiều đi, miễn phí đưa đón tại sân bay… Nếu không có học bổng thì chi phí (học phí, ăn ở) sẽ vào khoảng 500 triệu VNĐ/năm. Đây là khoản tiền khá lớn, lại yêu cầu trình độ tiếng Anh (nhưng nếu tiếng Anh kém thì có chương trình học “dự bị” trước khi học chính thức).

    2. Các chương trình du học tại chỗ, học tại trường nước ngoài như RMIT (đây là trường ĐH nước ngoài duy nhất tại Việt Nam hiện nay, mức học phí khoảng 100 triệu/năm), hoặc theo các chương trình hợp tác quốc tế du học tại chỗ hoặc du học bán thời gian (½ thời gian trong nước, ½ thời gian ra nước ngoài), học phí khoảng 50 triệu/năm.

    3. Học các chương trình Diploma hoặc tương đương do nước ngoài cấp bằng (Aptech, Arena, NIIT, Informatics, Raffles, Genetics, SaigonTech). Học phí theo chương trình này khoảng 20 – 30 triệu đồng/năm. Với bằng Diploma có thể liên thông ĐH sau khi tốt nghiệp, học liên thông tại Việt Nam hoặc nước ngoài.

    4. Rẻ tiền hơn là các chương trình CĐ nghề, hoặc các chương trình ĐH học theo hình thức vừa học vừa làm (tại chức), từ xa qua mạng… Học phí khoảng 5 – 10 triệu đồng/năm.

    Nếu phân loại hoàn cảnh gia đình theo “khá giả” và “nghèo”; học lực phân theo “tốt” và “thường” thì sẽ có 4 loại TS:

    1. Loại học lực “tốt”, thì dù “khá giả” hay “nghèo” đều không khó tìm chỗ học. Khi học ở trường công được Nhà nước trợ giá, chỉ phải trả mức học phí rất rẻ là hơn 2 triệu/năm (TS gia đình khá giả cũng chỉ phải trả như vậy, tương đương với chi phí điện thoại di động).

    2. Với TS học lực “thường thường”, nếu thuộc gia đình “khá giả” thì tìm một chỗ học CĐ, ĐH chấp nhận trả học phí cao (hường chất lượng cao hơn) cũng không có gì khó.

    3. “Nghèo” học lực “vừa phải”. Học lực không đủ để vào trường công giá rẻ, các cánh cửa khác mở ra đều yêu cầu học phí cao (các cụ gọi là “chó cắn áo rách”). Thông thường gia đình khá giả bao giờ cũng có điều kiện lo cho con cái học hành, cho nên tỷ lệ học kém tập trung nhiều ở gia đình nghèo.

    4. Con nhà “nghèo” học “kém” (dưới đáy)! Không chỉ CĐ, ĐH, nơi cánh cửa chỉ mở ra cho một số người và một số khác thì đành cam chịu cái số “cổng trường ĐH cao vời vợi”, mà trường phổ thông, nơi cung cấp tri thức tối thiểu, hướng tới phổ cập cho mọi đối tượng cũng không có chỗ cho con nhà nghèo học kém. Thi vào lớp 10 công lập hàng năm với phương thức tuyển chọn hiện nay là dựa vào học lực, em nào kém thì xin mời học ngoài công lập, nơi không được Nhà nước đầu tư, không được Nhà nước bù giá hàng năm, nơi mà để duy trì chất lượng, chỉ cần gần bằng trường công thôi đã phải thu học phí cao hơn hẳn.

    Để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn “nghèo” dễ “dốt” (dốt không được học, không học lại càng nghèo) cần có các quan điểm mang tính nhân văn và các giải pháp đột phá.

    Chẳng hạn, ở bậc ĐH không nhất thiết cứ phải “bù giá” cho con em gia đình khá giả, dành tiền này cho con em gia đình nghèo nhiều hơn hoặc không nhất thiết “bù giá” cho trường công, mà “bù giá” trực tiếp cho sinh viên(sinh viên học ở đâu cũng được hưởng chính sách hoặc xem học ĐH như một hình thức đầu tư cho tương lai)...

    Với trường phổ thông, có thể giải quyết theo phương án quy trách nhiệm cho các trường phổ thông công lập khi nhận tiền Nhà nước là phải nhận học sinh nghèo, học sinh khá giả mới phải thi...

    “Nghèo” và “dốt” không phải là tội! Mọi hoàn cảnh đều có con đường đi phù hợp và biết đâu những con đường “không chính quy” lại đến đích sớm hơn.

    Thầy Đồ Cóc

    ID: B0909_74