• Chủ Nhật, 25/10/2009 07:00 (GMT+7)

    Chứng thực Chữ ký số: “Chìa khóa” đã mở…

    Công ty Điện toán và truyền số liệu (VDC) là đơn vị đầu tiên được trao giấy phép cung cấp dịch vụ Chứng thực Chữ ký số (CKS) Công cộng. Phóng viên TGVT B đã trao đổi thêm với ông La Thế Hưng, Trưởng phòng An toàn thông tin của VDC.

    TGVT B: CKS được xem là “chìa khóa” để hiện thực hóa thương mại điện tử (TMĐT) cũng như các ứng dụng chính phủ điện tử (CPĐT). Ông có thể nói rõ hơn về dịch vụ (DV) Chứng thực CKS Công cộng mà VNPT đang triển khai?

    Ông La Thế Hưng: DV chứng thực chữ ký điện tử hay CKS là DV cung cấp giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, là cơ sở để tạo niềm tin cho người sử dụng trong việc gửi và nhận thông tin trực tuyến. Bản chất của sản phẩm chứng thực chữ ký điện tử tương tự như cấp con dấu và xác nhận con dấu của người đóng dấu, cung cấp bằng chứng cho sự nhận diện của một đối tượng. Sản phẩm giải quyết vấn đề mạo danh, giúp cho người nhận thông tin biết thông tin từ đâu cung cấp và tin cậy vào bên cung cấp thông tin.

    DV Chứng thực CKS có thể ứng dụng trong các giao dịch điện tử như: TMĐT (chứng thực người tham gia giao dịch, xác thực tính an toàn của giao dịch điện tử qua mạng Internet, chứng thực tính nguyên vẹn của hợp đồng, tài liệu, Internet Banking - chuyển tiền qua mạng…); Khai báo hải quan điện tử (HQĐT); Thuế điện tử; Giao dịch chứng khoán. Đặc biệt, DV có thể ứng dụng vào CPĐT trong các hoạt động hành chính công như: khai sinh, khai tử, nộp thuế, cấp các loại giấy tờ và chứng chỉ…; Mua bán, đấu thầu qua mạng; Hệ thống nộp hồ sơ xin phép: xuất bản, xây dựng, y tế, giáo dục…

    Như vậy, đối tượng sử dụng DV Chứng thực CKS Công cộng sẽ không chỉ giới hạn trong các tổ chức/ doanh nghiệp (DN)?

    Đúng vậy. Trong DV Chứng thực CKS Công cộng có 2 nhóm đối tượng chính gồm:

    1. Nhóm đối tượng sử dụng DV chấp nhận nộp phí ở mức cao: là các khách hàng(KH) có nhu cầu được sử dụng DV chứng thực số đòi hỏi sự an toàn cao trong giao dịch. Những KH này chấp nhận trả phí DV ở mức cao để có sự cam kết bảo hiểm cao của nhà cung cấp DV. Ví dụ: KH tham gia vào hệ thống nộp thuế điện tử, HQĐT, giao dịch chứng khoán điện tử…

    2. Nhóm đối tượng sử dụng DV chấp nhận nộp phí ở mức thấp: là các KH có nhu cầu được sử dụng DV chứng thực số nhưng không đòi hỏi sự an toàn cao trong giao dịch. Những KH này không cần nhà cung cấp DV cam kết bảo hiểm ở mức cao. Phí DV ở mức thấp hơn mức trên. Nhóm KH này bao gồm các đối tượng tham gia giao dịch hành chính công.

    “VNPT có thể triển khai ngay cho một số ứng dụng CKS như: Tích hợp CKS trong hệ thống thư điện tử, CKS trong hệ quản lý báo cáo, CKS trong DV cổng điện tử (portal), ứng dụng nộp hồ sơ khai thuế qua Internet”, Ông La Thế Hưng, Trưởng phòng ATTT, Công ty VDC

    Vậy tổ chức, DN được hưởng lợi như thế nào khi sử dụng DV này?

    DV chứng thực CKS có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn thông tin cho các giao dịch điện tử. CKS cũng là phương tiện để các DN tăng tính cạnh tranh trong TMĐT. Việc cung cấp DV chứng thư số không chỉ là một DV đơn thuần mang lại doanh thu cho VDC mà còn là một trong những biện pháp giúp Việt Nam phát triển TMĐT và giúp chính phủ có nền tảng để phát triển CPĐT. Trong tương lai, các ứng dụng CPĐT, TMĐT có sử dụng giao dịch trực tuyến đều yêu cầu bắt buộc phải sử dụng CKS. VNPT tiên phong cung cấp DV Chứng thực CKS Công cộng sẽ góp phần tích cực vào công cuộc cải cách hành chính và thúc đẩy phát triển TMĐT, CPĐT của Việt Nam.

    Khi DV Chứng thực CKS Công cộng chưa được Bộ TTTT cấp phép, có nhiều ý kiến băn khoăn về tính khả thi trong việc ứng dụng vào thực tế. Còn tình hình hiện này như thế nào, thưa ông ?

    Ngày 15/9/2009 tại Hà Nội, Bộ TTTT đã trao giấy phép cung cấp DV Chứng thực CKS Công cộng cho VNPT. Theo Giấy phép này, VNPT được cung cấp DV Chứng thực CKS cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng trong các hoạt động công cộng. Các loại chứng thư số bao gồm: Chứng thư số cá nhân cho cơ quan, tổ chức, cá nhân; Chứng thư số dành cho trang thông tin điện tử, chứng thư số dành cho ứng dụng các hoạt động TMĐT, các dịch vụ hành chính công; các thủ tục pháp lý hoặc thủ tục tài chính.

    Với cơ sở hạ tầng của mình, VNPT có thể triển khai ngay cho một số ứng dụng như: Tích hợp CKS trong hệ thống thư điện tử, trong hệ quản lý báo cáo, trong DV cổng điện tử (portal), ứng dụng nộp hồ sơ khai thuế qua Internet. Hiện tại, VNPT (VDC chủ trì) đã ký thỏa thuận với Bộ Tài chính để thiết lập, cung cấp, sử dụng hạ tầng chứng thực CKS Công cộng và thúc đẩy ứng dụng CKS trong các DV hành chính công điện tử của ngành Tài chính. Hai bên cũng hợp tác triển khai dự án thí điểm “Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế qua mạng Internet” và áp dụng CKS vào các thủ tục HQĐT trong giai đoạn 2009 - 2010. Hiện tại, Phòng ATTT của VDC cũng đang phối hợp với Tổng cục Hải quan để triển khai tích hợp CKS trong hệ thống HQĐT.

    “CKS đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn thông tin giao dịch điện tử và là một phương tiện hữu hiệu để các DN, đặc biệt là DN vừa và nhỏ , tăng cường sức cạnh tranh thông qua TMĐT và tham gia CPĐT. Hiện nay, có nhiều ứng dụng CKS phù hợp cho các DN, điển hình là việc mã hóa bảo vệ các thông tin số của DN, dùng CKS xác thực các e-mail trao đổi thông tin, kiểm soát truy cập vào các sàn giao dịch TMĐT và các thông tin đặt hàng, ngân hàng điện tử, mua sắm công... CKS không chỉ được thực hiện cho các giao dịch điện tử qua mạng Internet mà còn qua hệ thống mạng viễn thông di động”.
    TS Đào Đinh Khả, Giám đốc Trung tâm Chứng thực CKS Quốc gia.

    Đây là DV rất quan trọng, giúp xác thực thông tin khi triển khai CPĐT và TMĐT. Tuy nhiên, hầu hết người dùng hiểu biết khá ít về vấn đề này. Theo ông, làm thế nào để vượt qua những rào cản khi triển khai DV chứng thực CKS đến đối tượng áp dụng và người dùng cuối ?

    Một trong những trở ngại lớn là hiểu biết và nhận thức của người dùng, chưa có nhiều người hiểu về vai trò của CKS, ứng dụng như thế nào?! Mặt khác, sự thiếu vắng các ứng dụng về CKS hữu dụng và cơ bản cho người dùng cũng là những khó khăn. Kinh nghiệm tích hợp và xây dựng phần mềm sử dụng CKS của các công ty trong nước chưa nhiều nên hầu hết các ứng dụng CKS thông thường, ứng dụng giao dịch trực tuyến, ứng dụng TMĐT và thanh toán, ứng dụng CPĐT và hành chính công hiện nay đều chưa thể áp dụng ngay.

    Để triển khai một cách đồng bộ DV Chứng thực CKS Công cộng vào các DV nói trên cần phải có thời gian chuẩn bị. Và hơn hết, đối tượng được thụ hưởng cũng cần có thời gian để tìm hiểu thêm về DV này.

    Trần Đức

    ID: B0910_8