• Thứ Sáu, 30/10/2009 10:50 (GMT+7)

    Giá trị của phần mềm tự do

    Phần mềm nguồn mở ngày càng ăn nên làm ra nhưng đó không phải là thước đo để đánh giá phần mềm tự do có thành công hay không.

    Cách đây không lâu, một blogger kỳ cựu của website CNTT CNet có bài bình luận về sự phát triển của 2 trường phái phần mềm có mã nguồn mở là “Free Software” và “Open Source Software” (“phần mềm tự do” và “phần mềm nguồn mở”, tiếp theo xin phép được dùng thuật ngữ tiếng Anh).

    Bài viết nói trên có tựa đề “Free Software hết thời và Open Source Software lên ngôi”. Trong đó tác giả đề cập đến vấn đề Open Source Software (OSS) đã trở thành 1 “thế lực” trong nghành công nghiệp phần mềm bởi sự thỏa hiệp khôn ngoan với thế giới phần mềm có mã nguồn đóng. Điều này giúp cho giá trị đóng góp OSS vượt qua Free Software (FS) trong cộng đồng phần mềm có mã nguồn mở.

    Có thật như thế không? Tại sao trong thế giới phần mềm có mã nguồn mở lại có 2 trường phái OSS và FS? Để biết được thực hư thế nào, cách phù hợp nhất là  chúng ta quay về lịch sử của phần mềm có mã nguồn mở để  thấy được giá tri và sứ mệnh của từng trường phái như thế nào.

    Open Source – Hình thành và phân cực

    Tinh thần của thuật ngữ “Open Source” không phải xuất phát từ công nghiệp phần mềm mà từ giới khoa học cơ bản. “Open Source” hàm ý cộng tác và chia sẻ một vấn đề nào đó. Khoảng thập niên 50-60 thế kỷ trước, chương trình vận hành máy tính (tiền thân của hệ điều hành) được viết trong các viện hàn lâm, phòng thí nghiệm đều có mã nguồn đi kèm để đảm bảo chương trình chạy đúng trên từng máy cụ thể, nó phải được kiểm tra, khử lỗi thường xuyên hay mở rộng chức năng.

    Đến lượt các chương trình điều khiển máy tính tiến bộ hơn trở thành hệ điều hành (HĐH) và cũng là lúc xuất hiện các trình biên dịch. Chương trình máy tính tiếp tục được lan truyền trong giới kỹ thuật, họ chia sẻ với nhau những chương trình ưa thích một cách thoải mái, không bị ràng buộc bởi ai hay bất cứ điều khoản gì.

    Nhưng đầu thập niên 80, các công ty bán phần cứng máy tính bắt tính tiền phần mềm đi cùng. Đồng thời phát sinh thêm thuật ngữ “Copyright” để chỉ quyền sử dụng phần mềm, người dùng phải mua mới được phép dùng.

    Các hoạt động liên quan tới chia sẻ, xây dựng dự án phần mềm có nguồn mở tiếp tục hoạt động trên hệ thống truyền thông lúc bấy giờ (chưa phải Internet như ngày nay). Vào năm 1983, Richard Stallman, một giáo sư nghành khoa học máy tính ở trường Đại học MIT của Mỹ, phát động một dự án lấy tên GNU nhằm mục đích tạo ra một hệ điều hành hoàn chỉnh, miễn phí hoàn toàn và có cả mã nguồn. Ông là người khai sinh ra thuật ngữ “Free Software” và sau đó sáng lập ra Free Software Foundation để “truyền bá” tinh thần của FS.

    Với Richard Stallman, một phần mềm được gọi là phần mềm tự do phải có đủ 4 điểm tự do: (1) tự do dùng chương trình; (2) tự do tìm hiểu cách thức hoạt động của chương trình và có quyền thay đổi nó theo ý muốn; (3) có quyền phân phối lại cho bất kỳ ai; và (4) được phép cải tiến chương trình và chia sẻ lại ra cộng đồng.

    Sinh viên Ðại học Sư Phạm TP.HCM tham gia sự kiện "Software Freedom Day".
    Kể từ khi thành lập đến nay, triết lý của Richard Stallman đã làm cho số lượng dự án phần mềm có mã nguồn mở không ngừng gia tăng. Hàng nghìn dự án đã công bố trên toàn thế giới, trong đó có những dự án trở thành “hàng sao” trong nghành công nghiệp phần mềm. Chẳng hạn, như phần mềm máy chủ web Apache, HĐH Linux, hệ quản trị cở sở dữ liệu MySQL.

    Tưởng chừng sau gần 15 năm tồn tại và phát triển, FS sẽ ngày một vững chãi, thống thống nhất hơn. Nhưng, sự mở rộng cũng như nhiều đối tượng “tiếng tăm” tham gia đã làm cho nội bộ cộng đồng FS bắt đầu có những bất đồng về quan điểm. Có lẽ “giọt nước” làm họ không bằng lòng với nhau là chuyện khả năng kinh doanh từ các dự án phần mềm có mã nguồn mở, dẫn đến sự phân cực trong tổ chức này. Richard Stallman cho rằng giá trị của FS nằm ở mục đích xã hội, ông muốn thông qua cộng đồng FS để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.

    Năm 1997, Eric Raymond, được mệnh danh là “hacker” của Unix cho xuất bản quyển sách nhỏ có tựa đề “The Cathedral and the Bazaar” (Nhà thờ và phố chợ) nhằm chỉ ra 2 mô hình để phát triển phần mềm có mã nguồn mở. Mô hình “phố chợ” đã được Linus Torvalds, thủ lĩnh của HĐH Linux sử dụng như một điển hình. Thay vì mã nguồn chỉ được cung cấp bên trong nội bộ nhóm phát triển như mô hình “nhà thờ”, “phố chợ” đưa mã nguồn lên Internet để cho tất cả đều thấy được. Ông cho rằng: “có nhiều con mắt thì lỗi sẽ càng dễ phát hiện hơn”. Nhiều công ty thương mại đã hưởng ứng cách phát triển phần mềm có công bố mã nguồn. Đi đầu là Netscape Communications, hãng trình duyệt web thương mại một thời, đã phát động dự án trình duyệt có mã nguồn mở Mozilla Firefox. Ngày nay nó trở thành đối thủ đáng gờm với Internet Explorer của Micrososft.

    Ý tưởng của Raymond, chính xác đã có giá trị thực tế. Nhưng nó cũng là nguyên nhân để những người ủng hộ ông dựa vào đó để chỉ trích triết lý xã hội của Richard Stallman. Sau đó 1 năm, Erice Raymond cùng Tim O’Reilly và cả Linus Torvalds thành lập Open Source Initiative. Đánh dấu sự xuất hiện trường phái thứ 2 của cộng đồng phần mềm có mã nguồn mở.

    Câu chuyện “Tôi chọn Linux”

    Trong sự kiện “Software Freedom Day 2009” tổ chức ở TP.HCM trong tháng 9/2009. Huỳnh Kỳ Anh, một trong số người thuyết trình về ứng dụng phần mềm có mã nguồn mở đã thổ lộ “tình cảm” của mình với Linux ra sao. Anh nói: “Thật sự, đến bây giờ, việc dùng Linux vẫn còn là cực hình đối với tôi, cho dù điều đó đôi khi không xuất phát từ bản thân hệ điều hành này”.

    Huỳnh Kỳ Anh
    Thời còn là sinh viên sinh viên khoa Toán của Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, kỷ niệm của anh trên HĐH Windows vừa ít lại vừa buồn, chỉ vọn vẻ một chuyện làm hỏng HĐH Windows 98 và “toi” hết 50 ngàn để thuê kỹ thuật viên cài lại! Nhưng điều ấy lại tràn ngập khi “cập bến” Linux.

    Kỳ Anh kể: “Tôi có rất nhiều kỷ niệm trên Linux. Biên dịch toàn bộ Linux từ mã nguồn, vài lần "tự thiêu" (mất sạch dữ liệu) vì gõ nhầm lệnh rm -rfv /, cùng người bạn thức trắng đêm để khôi phục dữ liệu từ một ổ đĩa Raid (nhưng cuối cùng phải dùng phần mềm trên Windows mới xong), giúp vài sinh viên khôi phục ổ cứng vì họ đã xóa nhầm toàn bộ các phân vùng khi cài Ubuntu”.

    “Tôi luôn thấy phấn khích khi nói về những kỷ niệm đó. Bạn có thể gọi đó là "tám", và tôi thấy mình có khả năng "tám" hàng giờ về ba chuyện linh tinh như vậy”

    Có người hỏi anh: “tại sao lại chọn Linux?”

    Anh đáp:

    “Linux rất thích hợp với tôi, vì tôi không có nhiều tiền để mua mọi thứ như khi xài Windows. Tôi có thể sửa lại một số cấu hình theo ý của mình, trong trường hợp tôi có thời gian và khả năng, nghĩa là tôi có thể biến máy tính thành một thứ thuần túy cá nhân, đến mức “quái dị” chẳng giống ai”.

    Nhưng, điều đọng trong tâm trí người hỏi lại tương đồng với mục đích của FS:  “Tôi dùng Linux vì nó mang lại sự tự do, bình đẳng trong sử dụng phần mềm, mang ý nghĩa rất nhân văn”.

    Lời kết

    Ngày nay, ngày hội phần mềm tự do đã có mặt ở hơn 100 quốc gia khác nhau, điều này chứng tỏ rằng FS đang phát triển trên nền tảng giá trị của họ và những câu chuyện “phải lòng” trong cộng đồng phần mềm có mã nguồn mở như Huỳnh Kỳ Anh cũng không phải ít.

    Có thể, do dựa vào dự báo của IDG rằng thị trường OSS sẽ đạt giá trị hơn 5 tỷ đô la Mỹ (khoảng 80.000 tỷ đồng ) nên mới có chuyện giới bình luận cho rằng OSS lên ngôi. Có lẽ họ đã nhầm trong sự so sánh, cơ bản nhất họ không thể so sánh cái giá trị muốn hướng tới của một tinh thần này với một giá trị của tinh thần khác.

    FS là cảm hứng để thế giới CNTT có nhiều người tham gia cộng đồng mã nguồn mở hơn. Thực tế cho thấy trường phái OSS đang làm kinh tế giỏi vì một phần được tiếp sức từ những tập đoàn hùng mạnh. Nhưng hầu hết động lực của số lập trình viên tình nguyện tạo nên các dự án phần mềm có mã nguồn mở có thể “bán” được đều xuất phát từ lý tưởng Richard Stallman truyền cho họ, dù biết rằng có quyền thương mại sản phẩm của mình.

    Thước đo giá trị của FS không là lợi nhuận mà nó chiếm được trong nghành công nghiệp phần mềm mà là bao nhiêu người chia sẻ phần mềm mình có cho người khác một cách hợp pháp.

    Hải Phạm

    ID: O0910_1