• Thứ Năm, 11/02/2010 10:44 (GMT+7)

    Thị trường 2010: Những cánh cửa còn để ngỏ

    Lời tòa soạn: Ông Richard Burrage (quốc tịch Anh), Tổng giám đốc điều hành Công ty Nghiên cứu thị trường Cimigo (TP.HCM), qua các khảo sát của Cimigo đã chỉ ra nhiều đặc điểm của thị trường Việt Nam. Từ các đặc điểm này, có thể nhìn thấy đâu là cơ hội trong năm 2010 với nhiều ngành, đặc biệt là viễn thông, truyền thông (truyền hình, quảng cáo).

    Vài đặc điểm của thị trường

    Đến năm 2010, Việt Nam có số dân là 87 triệu, trong đó một nửa dưới 30 tuổi. 9/10 là người Kinh và đại đa số (97% người trưởng thành) đều có khả năng đọc, viết tốt.

    Tầng lớp trung và thượng lưu ở những thành phố lớn của Việt Nam đến trước năm 2010 đã chiếm đến 6/10 hộ gia đình, cao hơn đáng kể so với mức 2/10 vào năm 2000. Với mức GDP hàng năm trong mười năm qua ở vào khoảng 7%, Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh với tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng thứ hai châu Á, chỉ sau Trung Quốc. Tuy vậy, mức tăng trưởng giữa các tỉnh thành khác nhau rất lớn. GDP tính theo đầu người của Việt Nam là khoảng 16,6 triệu đồng (900 USD) nhưng ở các thành phố lớn, con số này có thể đạt đến mức khoảng 46,3 triệu đồng (2.500 USD).

    40% số dân thành thị của cả nước sống ở sáu thành phố chính của Việt Nam. Tuy nhiên, số dân thành thị chỉ chiếm hơn một phần tư tổng số 87 triệu người của Việt Nam. Tiếp cận với người tiêu dùng Việt Nam không phải là việc dễ.

    Người tiêu dùng Việt Nam đồng thời bị ảnh hưởng bởi 2 phong cách: Một là quốc gia châu Á mang nếp sống nông thôn thô sơ, giàu truyền thống và lý thú như khách du lịch thường nhìn nhận; Hai là một nước châu Á đô thị hóa, hiện đại, tiên tiến và năng động. Người Việt Nam có tính cầu tiến, tích cực và lạc quan. Họ là những người không níu kéo quá khứ mà luôn hướng về tương lai. Niềm tin của cả người tiêu dùng lẫn các doanh nghiệp (DN) trong nước đều cao hết mực. Với nền dân số trẻ, đại đa số người Việt chỉ nhìn thấy tình hình kinh tế cá nhân mình đang được cải thiện nhanh chóng.


    Ngành tiêu dùng: Dịch vụ viễn thông nở rộ


    Khát khao tiên tiến khiến người tiêu dùng Việt Nam ra sức tìm kiếm tri thức, thông tin và trải nghiệm mới. Người Việt Nam trẻ tuổi nhạy bén về thương hiệu và quảng cáo hơn người lớn tuổi – những người ngày càng phải dựa vào giới trẻ làm cầu nối giữa họ và thế giới tiêu dùng.

    Một yếu tố thuận lợi cho các nhà tiếp thị là đối với người Việt Nam, sự thành đạt được gắn liền với thể diện, với điều được thể hiện ra bên ngoài và được những người khác ghi nhận. Phương diện có tính văn hóa này dẫn đến lối tiêu dùng khá cá biệt ở Việt Nam.

    Tại hai thành phố trung ương của Việt Nam là Hà Nội và Hồ Chí Minh, đa số người dân đều có điện thoại di động và đều đã từng sử dụng Internet (Xem biểu đồ).

    Viễn thông, tài chính, bất động sản, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục là các ngành sẽ phát triển vượt bậc trong thập kỷ sắp đến do các quy định của WTO đòi hỏi Việt Nam phải mở rộng các ngành dịch vụ này – đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông và tài chính. Năm 2008, đầu tư nước ngoài tăng cao đạt đến mức 64 tỷ USD. Tuy nhiên, do còn yếu kém trong giải ngân nguồn vốn và những giới hạn về cơ sở hạ tầng, thực tế chỉ có 11.5 tỷ USD đã thực sự được đưa vào sử dụng.

    Thâm nhập thị trường Việt Nam:
    7 YẾU TỐ MANG LẠI THÀNH CÔNG


    1. Tránh khuynh hướng cường điệu. Thực sự hiểu quy mô thị trường của bạn. Đây không phải là thị trường có 87 triệu người tiêu dùng. Thực tế, trong số đó là 5 triệu hộ gia đình đô thị. 2,7 triệu trong số này nằm trong khoảng chi tiêu thành thị (trung-thượng lưu). 2,7 triệu hộ gia đình đồng nghĩa với 12,2 triệu người phân tán thành nhiều nhóm tiêu dùng rất khác nhau.
    2. Nhìn xa trông rộng. Sự tăng trưởng lâu dài đòi hỏi sự khôn khéo (của bạn) và lòng tôn trọng (dành cho người tiêu dùng). Hãy tìm hiểu người Việt, tìm hiểu những nhu cầu của họ và điểm khác biệt giữa các địa phương, vùng, miền.
    3. Mang lại các sản phẩm không chỉ phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng mà còn tương xứng với túi tiền của họ. Giá cả, nhất là số tiền cụ thể phải chi ra, là một vấn đề rất nhạy cảm đối với người tiêu dùng Việt Nam. Hãy nghĩ đến những sản phẩm kích cỡ nhỏ (rẻ hơn) và những cách đóng gói tiết kiệm hơn.
    4. Bảo đảm sản phẩm của bạn được phân phối trên quy mô sâu rộng để tối đa hóa khả năng bán hàng. Các công ty thành công ở Việt Nam thường rất mạnh về quản lý các kênh phân phối và bán hàng.
    5. Tập trung nguồn lực, không phân tán khắp các kênh phụ trội vốn chỉ phù hợp cho các thị trường đã phát triển (thị trường có phân khúc chuyên sâu). Hãy ra quyết định phù hợp với tình hình thị trường ở Việt Nam – một thị trường vẫn còn nằm trong giai đoạn “đang phát triển”.
    6. Tránh xem thường các đối thủ cạnh tranh nội địa; ba năm trước, họ đã bắt kịp các công ty nước ngoài ở Việt Nam! Những thành công tiếp thị gần đây dẫn đến việc phải tái định hình các chủng loại sản phẩm chính đều là do nỗ lực của các công ty trong nước.
    7. Bạn đang tìm kiếm đối tác trong nước? Những công ty nội địa lớn ở Việt Nam không cần đến nguồn vốn của bạn. Việt Nam không thiếu vốn. Kiến thức chuyên môn, công nghệ và kinh nghiệm là những gì các công ty trong nước đang tìm kiếm!

    Ngành truyền hình: Thiếu chương trình có chất lượng

    Cimigo ước tính trong năm 2010, sẽ có 740 triệu USD được đổ vào các kênh TV và ấn phẩm truyền thông chính. TV là kênh chiếm vị trí chính yếu trong quảng cáo (xấp xỉ 85% kinh phí quảng cáo). Đa số người tiêu dùng (lầm) nghĩ những gì được quảng cáo trên TV là thật, theo kết quả khảo sát.

    Với tổng cộng hơn 125 kênh, thị trường TV tại Việt Nam được phân hóa mạnh thành các kênh địa phương, trong số đó nhiều kênh phát lại nội dung của kênh truyền hình quốc gia. Người xem truyền hình tập trung nhiều ở hai kênh ”giải trí” là VTV3 và HTV7 – hai kênh chiếm đến phân nửa kinh phí của ngành quảng cáo. Giờ xem truyền hình cao điểm nhất là từ 8 đến 10 giờ tối hàng ngày, và sau đó là sau giờ ăn trưa.

    Ngành truyền hình Việt Nam rất khan hiếm chương trình có chất lượng. Sự thiếu hụt này càng đẩy mạnh sự phân hóa không đồng đều về kênh và giờ xem truyền hình. Bên cạnh đó, tình trạng khan hiếm chương trình cũng đồng thời ảnh hưởng nặng nề đến khả năng lên kế hoạch truyền thông hiệu quả, các thỏa thuận trao đổi diễn ra thường xuyên, dẫn đến các công ty sản xuất nắm giữ 50% các thời điểm quảng cáo cho phép. Các chương trình nước ngoài chiếm 25% thời lượng phát sóng; Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan là những nguồn chương trình chủ yếu.

    Ngành quảng cáo: Cũng là vấn đề nội dung thông tin

    Chương trình quảng cáo ở Việt Nam thường kéo dài đến hai mươi đoạn phim quảng cáo. Truyền thông cùng hàng chục “giọng” quảng cáo khác như vậy chẳng khác gì tìm cách nói chuyện trong một sàn disco huyên náo. Quá nhiều các phim quảng cáo truyền hình ở Việt Nam không có trọng tâm (quá nhiều thông điệp truyền tải cùng một lúc), làm tê liệt khả năng sáng tạo và khả năng tạo điểm khác biệt trong quảng cáo. 55% chi phí quảng cáo quảng bá tốt cho chủng loại sản phẩm nhưng không có tác dụng quảng bá cho thương hiệu cụ thể. Phần đông người nội trợ (người nắm giữ các khoản chi tiêu gia đình ở Việt Nam), người lao động phổ thông và đặc biệt là người tiêu dùng ở vùng nông thôn cần một thông điệp thẳng thắn, đơn giản hơn. Việc truyền tải mập mờ hay ẩn ý không mang lại hiệu quả đối với nhóm người tiêu dùng vốn chiếm đại đa số dân số Việt Nam này.

    Giải báo chí "CNTT-VT TP.HCM mở rộng 2009-2010"

    Giải báo chí “CNTT-VT TP.HCM mở rộng lần thứ 2 (2009 - 2010)” đã được phát động tại TP.HCM, ngày 14/1/2010, nhằm công bố rộng rãi thông tin về Giải để thu hút các bài viết có giá trị. Giải do CLB Phóng viên CNTT-VT TP.HCM (HIPC) phối hợp Hội Nhà báo TP.HCM tổ chức.

    Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở TTTT TP.HCM: “Giải nên tập trung vào chiến lược tăng tốc sớm đưa Việt Nam thành quốc gia mạnh về CNTT”.

    Thực hiện chỉ đạo “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” trong lĩnh vực CNTT-VT của Bộ Chính trị, Giải khuyến khích các bài viết ở lĩnh vực ứng dụng sản phẩm và công nghệ Việt Nam. Bên cạnh đó 3 chủ đề truyền thống của Giải là phản ánh những sự kiện, thành tựu nổi bật, thực trạng và cả những mặt yếu của ngành công nghiệp CNTT và VT trong cả nước; Phát hiện, tôn vinh những cá nhân, đơn vị, nhóm nghiên cứu, DN điển hình tiên tiến trong việc nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực CNTT-VT vào đời sống, sản xuất, kinh doanh và quản lý mang lại hiệu quả cao, nhất là các sản phẩm nội địa; Cổ vũ ứng dụng CNTT-VT phục vụ vùng sâu vùng xa, hải đảo, biên giới đồng thời đề xuất giải pháp kinh tế kỹ thuật hiệu quả.
    Người tham gia cuộc thi có thể gửi tối đa 5 tác phẩm báo chí (đăng trong khoảng thời gian 2 năm từ 1/11/2008 đến 31/10/2010) về Hội Nhà báo TP.HCM, số 14 Alexandre De Rhodes, ĐT: 8256177, Email: hoinhabaohcm@gmail.com hay Ban thư ký HIPC: (lầu 4, số 126 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.3, email: ictpressclub@gmail.com). Nhận bài kể từ ngày công bố Giải đến hết ngày: 31/10/2010 (tính theo dấu bưu điện). Chấm giải: tháng 11/2010; Trao giải: cuối năm 2010. Có 1 giải nhất trị giá 8.000.000 đồng; 3 giải nhì, mỗi giải trị giá 6.000.000 đồng; 5 giải ba, mỗi giải trị giá 4.000.000 đồng; 7 giải khuyến khích, mỗi giải trị giá 1.500.000 đồng và một số giải chuyên đề do các nhà tài trợ tặng.

    Richard Burrage

    ID: B1002_9